Lịch sử vùng Bù Gia Mập có thể chia thành sáu thời kỳ: thời các sóc, bon bản địa giữa rừng; thời Pháp mở đồn điền và đồn binh; thời các cuộc kháng chiến, khép lại bằng ngày giải phóng Phước Long 6/1/1975; thời khai hoang và di dân sau 1975; mười sáu năm làm huyện Bù Gia Mập từ 2009 đến 2025; và từ ngày 1/7/2025, bốn xã Bù Gia Mập, Đa Kia, Đăk Ơ, Phú Nghĩa của tỉnh Đồng Nai.
Mỗi thời kỳ để lại một lớp dấu vết: tên suối, tên sóc bản địa; dấu tích đồn điền; đài tưởng niệm; tên ấp số, tên xã Hán Việt; khu trung tâm huyện ở Phú Nghĩa; và địa chỉ mới trên giấy tờ. Bài này là bản tổng quan cho người mới tìm hiểu, mỗi thời kỳ có bài riêng đi sâu hơn trong mục lịch sử và tên gọi của trang.
Thời bản địa: rừng, suối và những cái tên đầu tiên
Trước khi có bất kỳ đơn vị hành chính nào, vùng Bù Gia Mập là không gian sống của người S'tiêng và M'nông. Họ sống theo sóc, bon, làm rẫy luân canh trong rừng, mỗi cộng đồng có vùng rẫy, vùng săn bắt, vùng lấy nước riêng. Đất, rừng, suối được quản lý bằng luật tục, các già làng là người giữ trí nhớ và phân xử.
Những cái tên đầu tiên của vùng đất ra đời trong thời kỳ này: tên suối, tên đồi, tên sóc bằng tiếng bản địa. Một số tên sau này được người Việt phiên âm và đưa vào giấy tờ như Bù Gia Mập, Đắk Ơ, Đa Kia. Phần lớn còn lại chỉ sống trong lời nói của đồng bào.
Thời kỳ này không có mốc năm cụ thể, vì nó kéo dài nhiều thế kỷ và không được ghi chép bằng văn bản. Hiểu biết về nó chủ yếu đến từ truyền khẩu, từ nghiên cứu dân tộc học và khảo cổ ở vùng lân cận. Điều chắc chắn là người bản địa đã ở đây rất lâu trước mọi lớp lịch sử khác.
Thời Pháp: đường sá, đồn binh và vùng cao bị kéo vào thị trường
Đầu thế kỷ 20, chính quyền thuộc địa Pháp mở rộng lên vùng cao. Đồn binh được dựng, đường được mở, thuế và phu dịch được áp lên các sóc. Ở vùng đất đỏ phía nam như Phú Riềng, Lộc Ninh, các đồn điền cao su lớn được lập, kéo theo hàng nghìn công nhân từ miền Bắc, miền Trung vào. Vùng Bù Gia Mập ở phía bắc, rừng rậm hơn, ít bị khai thác hơn nhưng cũng chịu ảnh hưởng.
Thời kỳ này để lại hai loại dấu vết. Một là các cuộc kháng cự của đồng bào, nổi bật là phong trào của người M'nông do N'Trang Lơng lãnh đạo ở vùng rừng giáp ranh. Hai là các di tích thuộc địa ở vùng lân cận như nhà ngục Bà Rá ở Phước Long và các đồn điền cao su cũ ở Phú Riềng, nơi diễn ra phong trào Phú Riềng Đỏ năm 1930.
Từ góc nhìn dài hạn, thời Pháp là lúc vùng cao bắt đầu bị kéo vào nền kinh tế thị trường thế giới qua cây cao su, và là lúc những ghi chép đầu tiên bằng chữ viết về vùng đất này xuất hiện.
Thời kháng chiến: hành lang chiến lược và ngày 6/1/1975
Trong các cuộc kháng chiến, vị trí sát biên giới và rừng rậm khiến vùng Bù Gia Mập trở thành một phần của hành lang nối Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ. Đồng bào và các lực lượng kháng chiến dựa vào rừng để trú quân, cất giấu, vận chuyển. Phía đối phương lập đồn trại để kiểm soát vùng biên. Chiến tranh làm rừng bị tàn phá, các sóc bị ly tán, nhiều gia đình mất người thân.
Từ giữa thập niên 1950, vùng đất thuộc tỉnh Phước Long do chính quyền Sài Gòn lập. Mốc khép lại thời kỳ này là chiến dịch Đường 14 – Phước Long, kết thúc ngày 6/1/1975 với việc giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng trọn vẹn trước mùa xuân năm 1975.
Dấu vết thời kỳ này còn ở các nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm, trong ký ức các gia đình và các cuốn lịch sử địa phương. Ngày 6/1 vẫn được nhắc đến hằng năm ở vùng Phước Long cũ.
Thời khai hoang: từ rừng thành vườn điều, cao su
Sau 1975, vùng đất thuộc huyện Phước Long của tỉnh Sông Bé, rồi từ năm 1997 thuộc tỉnh Bình Phước. Đây là thời kỳ thay đổi nhanh nhất về dân cư và cảnh quan. Các đợt kinh tế mới, nông trường, lâm trường, bộ đội làm kinh tế, rồi làn sóng di dân tự do thập niên 1990 đưa hàng chục nghìn người đến. Rừng bị khai phá rộng để trồng cây công nghiệp; cây điều dần thành cây chủ lực, làm nên danh tiếng hạt điều Bình Phước.
Đồng bào bản địa chuyển từ rẫy luân canh sang định canh định cư, sống xen cư với người Kinh và người các dân tộc phía Bắc. Các xã mới lần lượt được tách lập với những cái tên Hán Việt như Phú Nghĩa, Đức Hạnh, Phú Văn, Phước Minh, Bình Thắng. Phần rừng còn lại ở phía bắc được bảo vệ, trở thành khu bảo tồn rồi Vườn quốc gia Bù Gia Mập vào đầu những năm 2000.
Thời kỳ này định hình gần như toàn bộ diện mạo vùng Bù Gia Mập hôm nay: dân cư đa vùng, kinh tế dựa vào điều, cao su, tiêu, và một vườn quốc gia lớn ở phía bắc làm ranh giới giữa vùng vườn và vùng rừng.
Mười sáu năm làm huyện và bước sang bốn xã
Hai thời kỳ gần nhất có mốc rõ ràng, được ghi bằng văn bản. Bảng dưới gói lại các thay đổi chính:
| Năm | Sự kiện | Ý nghĩa với vùng đất |
|---|---|---|
| 2009 | Chia huyện Phước Long, lập thị xã Phước Long và huyện Bù Gia Mập | Vùng nông thôn, rừng và biên giới có huyện riêng, trung tâm ở Phú Nghĩa |
| 2009–2015 | Huyện Bù Gia Mập gồm mười tám xã, cả vùng Phú Riềng | Huyện rộng, hai vùng khác biệt trong một bộ máy |
| 2015 | Tách mười xã phía nam lập huyện Phú Riềng | Bù Gia Mập còn tám xã, thuần vùng rừng và biên giới |
| 2015–2025 | Xây dựng hạ tầng, trung tâm huyện, chương trình cho vùng đồng bào | Đường nhựa, điện, trường học đến các xã xa |
| 1/7/2025 | Bỏ cấp huyện, Bình Phước nhập Đồng Nai, tám xã thành bốn xã | Vùng Bù Gia Mập thành góc bắc của tỉnh Đồng Nai mới |
Hai mốc 2009 và 2025 đóng khung một thời kỳ ngắn nhưng có ý nghĩa: lần đầu tiên tên Bù Gia Mập là tên một huyện, và cũng là lần cuối cùng, vì cấp huyện đã bị bỏ trên toàn quốc.
Từ 2025: bốn xã trong một tỉnh lớn
Từ ngày 1/7/2025, vùng Bù Gia Mập gồm bốn xã Bù Gia Mập, Đa Kia, Đăk Ơ và Phú Nghĩa, trực thuộc tỉnh Đồng Nai mới. Không còn cấp huyện đứng giữa, các xã làm việc trực tiếp với tỉnh. Nhiều thủ tục hành chính được đưa về xã hoặc làm trực tuyến. Ranh giới vùng đất không đổi, nhưng vị trí trong bộ máy hành chính đổi hẳn: từ một huyện của tỉnh Bình Phước thành bốn xã ở góc xa nhất của một tỉnh lớn có cả khu công nghiệp, cảng và sân bay.
Thời kỳ này mới bắt đầu, nên chưa thể đánh giá. Những câu hỏi đang được người dân quan tâm là: việc đi lại làm thủ tục cấp tỉnh có xa hơn không, đầu tư cho vùng biên và vùng đồng bào có được duy trì không, và hạt điều, mủ cao su của vùng có được hưởng lợi từ việc chung tỉnh với các trung tâm chế biến, xuất khẩu phía nam hay không.
Dù câu trả lời là gì, cái tên Bù Gia Mập vẫn ở lại: trong tên xã Bù Gia Mập, tên Vườn quốc gia Bù Gia Mập, và trong cách người dân bốn xã gọi quê hương mình.
Những gì không đổi qua sáu thời kỳ
Rừng ở phía bắc. Qua mọi biến động, khối rừng phía bắc vẫn là nét chính của vùng đất. Nó từng là không gian sống của sóc bon, là nơi trú quân thời chiến, rồi thành vườn quốc gia. Diện tích rừng thu hẹp nhiều trong thời khai hoang, nhưng phần lõi được giữ lại và vẫn quyết định cách người ta nhìn về Bù Gia Mập.
Vị trí vùng biên. Đường biên giới với Campuchia là yếu tố cố định chi phối lịch sử vùng đất: từ chuyện các cộng đồng cùng dân tộc sống hai bên, chuyện hành lang chiến tranh, đến các quy định về khu vực biên giới hôm nay.
Đất đỏ và cây lâu năm. Lớp đất đỏ vùng đồi là lý do người Pháp mở đồn điền cao su ở phía nam, là lý do người khai hoang tìm đến trồng điều, cao su, tiêu. Đất quyết định nghề, nghề quyết định dòng người đến.
Sự hiện diện của đồng bào bản địa. Dù dân cư thay đổi mạnh, người S'tiêng, M'nông vẫn là một phần không tách rời của vùng đất, với tiếng nói, tên gọi và tập quán còn hiện diện trong đời sống bốn xã.
Khoảng cách tới trung tâm. Dù thuộc Phước Long, Sông Bé, Bình Phước hay Đồng Nai, vùng Bù Gia Mập luôn là phần xa trung tâm tỉnh. Điều này giải thích vì sao vùng đất thường được nhắc tới trong các chính sách ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng biên.
Đọc lịch sử Bù Gia Mập: những nguồn nên tìm
Với người muốn đi sâu hơn bài tổng quan này, đây là các loại nguồn đáng tìm, xếp từ dễ tiếp cận đến chuyên sâu:
- Các bài trong mục lịch sử và tên gọi của trang này, mỗi bài đi sâu một thời kỳ hoặc một chủ đề: tên gọi, lập huyện, tách Phú Riềng, đổi tỉnh, kháng chiến, đồng bào, khai hoang, tên các xã, sắp xếp 2025.
- Các văn bản pháp lý về thành lập, chia tách, sắp xếp đơn vị hành chính, tra trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật quốc gia theo tên huyện, tên xã.
- Các cuốn lịch sử đấu tranh cách mạng, địa chí của tỉnh Bình Phước cũ và các huyện Phước Long, Bù Gia Mập, lưu ở thư viện tỉnh và các cơ quan địa phương.
- Các công trình nghiên cứu dân tộc học về người S'tiêng, M'nông của các viện nghiên cứu và trường đại học.
- Ký ức của người cao tuổi: già làng, cựu chiến binh, những người đi kinh tế mới đầu tiên. Đây là nguồn quý nhất và cũng dễ mất nhất.
Khi đối chiếu các nguồn, nên để ý thời điểm và phạm vi địa lý của từng nguồn: một tài liệu nói về "huyện Bù Gia Mập" năm 2012 bao gồm cả vùng Phú Riềng, còn một tài liệu năm 2020 chỉ nói về tám xã phía bắc.
Câu hỏi thường gặp
Lịch sử Bù Gia Mập chia thành những thời kỳ nào?
Có thể chia thành sáu thời kỳ: thời bản địa, thời Pháp, thời kháng chiến đến năm 1975, thời khai hoang và di dân sau 1975, thời làm huyện Bù Gia Mập từ 2009 đến 2025, và từ ngày 1/7/2025 là bốn xã thuộc tỉnh Đồng Nai.
Trước năm 2009, vùng Bù Gia Mập thuộc huyện nào?
Trước năm 2009, vùng đất thuộc huyện Phước Long, lần lượt của tỉnh Sông Bé và từ năm 1997 là tỉnh Bình Phước. Trước năm 1975, vùng đất thuộc tỉnh Phước Long do chính quyền Sài Gòn lập từ giữa thập niên 1950.
Vườn quốc gia Bù Gia Mập có từ khi nào?
Khu rừng phía bắc được bảo vệ như một khu bảo tồn thiên nhiên, rồi được nâng lên thành Vườn quốc gia Bù Gia Mập vào đầu những năm 2000. Chi tiết về thiên nhiên và công tác bảo tồn được viết ở mục vườn quốc gia, rừng và khí hậu của trang.
Huyện Bù Gia Mập tồn tại bao lâu?
Huyện Bù Gia Mập tồn tại khoảng mười sáu năm, từ năm 2009 khi được lập từ huyện Phước Long đến ngày 1/7/2025 khi cả nước bỏ cấp huyện. Trong thời gian đó, năm 2015 huyện tách mười xã phía nam để lập huyện Phú Riềng.
Hiện nay vùng Bù Gia Mập gồm những xã nào?
Từ ngày 1/7/2025, vùng Bù Gia Mập gồm bốn xã thuộc tỉnh Đồng Nai: xã Bù Gia Mập, xã Đa Kia, xã Đăk Ơ và xã Phú Nghĩa, được sắp xếp từ tám xã cũ của huyện Bù Gia Mập.
Ai là chủ nhân đầu tiên của vùng đất Bù Gia Mập?
Chủ nhân đầu tiên là người S'tiêng và người M'nông, hai dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, đã sinh sống ở vùng rừng núi giáp ranh miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Campuchia từ rất lâu trước khi có các đơn vị hành chính hiện nay.