Phần lớn cư dân vùng Bù Gia Mập hôm nay là thế hệ thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba của những người lên khai hoang sau năm 1975. Họ đến theo nhiều đợt và nhiều con đường: đi kinh tế mới theo kế hoạch, bộ đội chuyển ngành làm kinh tế, công nhân nông trường, lâm trường, và từ thập niên 1990 là làn sóng di dân tự do của người Kinh lẫn người các dân tộc thiểu số phía Bắc.
Các đợt di dân ấy biến một vùng rừng thưa dân thành vùng điều, cao su, tiêu, đồng thời tạo nên một xã hội đa dạng: trong một thôn có người gốc Bắc, gốc Trung, người miền Tây lên, người S'tiêng, M'nông bản địa, người Tày, Nùng, Dao từ miền núi phía Bắc vào. Bài này kể lại các làn sóng di dân, cách các xã hình thành, và dấu vết của chúng trong đời sống hôm nay.
Làn sóng đầu tiên: kinh tế mới và nông trường
Sau 1975, Nhà nước chủ trương phân bố lại lao động và dân cư, đưa người từ các vùng đông dân lên khai phá vùng đất mới. Vùng đồi đất đỏ phía bắc tỉnh Sông Bé, trong đó có vùng Phước Long, Bù Gia Mập ngày nay, là một trong những điểm đến. Những đoàn người từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ các đô thị phía nam lên lập các khu kinh tế mới, được cấp đất, dụng cụ và hỗ trợ ban đầu.
Cùng thời gian, các nông trường, lâm trường quốc doanh được thành lập hoặc tiếp quản từ các đồn điền cũ. Công nhân nông trường cao su, công nhân lâm trường khai thác gỗ là một bộ phận dân cư quan trọng. Nhiều khu tập thể công nhân sau này phát triển thành thôn, ấp.
Những năm đầu vô cùng khó khăn: rừng rậm, sốt rét, thiếu lương thực, đường đất mùa mưa lầy lội, xa chợ, xa trạm y tế. Không ít người không trụ được đã quay về quê. Những người ở lại phát rừng làm rẫy, trồng lúa, bắp, sắn để sống, dần dần chuyển sang trồng cây lâu năm. Ký ức về những năm này, với bữa cơm độn sắn, những trận sốt rét rừng và những chuyến gánh nông sản đi bộ hàng chục cây số ra chợ, vẫn được các gia đình kể lại cho con cháu.
Bộ đội làm kinh tế và những người lính ở lại
Một nguồn dân cư đáng kể khác là bộ đội. Sau chiến tranh, nhiều đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ làm kinh tế ở vùng biên giới và vùng sâu, vừa sản xuất vừa giữ an ninh. Họ mở đường, lập nông trường, xây dựng các điểm dân cư đầu tiên. Khi đơn vị chuyển đi hoặc giải thể, không ít người lính ở lại lập gia đình, nhận đất, trở thành cư dân thường trú.
Vùng biên giới phía bắc Bù Gia Mập còn chứng kiến những năm căng thẳng ở biên giới Tây Nam cuối thập niên 1970. Sự có mặt của lực lượng quân đội và biên phòng trong thời kỳ này góp phần định hình các khu dân cư dọc biên giới, đi kèm những con đường tuần tra sau trở thành đường dân sinh.
Dấu ấn của người lính còn lại trong tinh thần cộng đồng ở nhiều thôn: tổ chức chặt chẽ, quen kỷ luật, tương trợ nhau trong lao động. Ở nhiều nơi, các hội cựu chiến binh là một trong những tổ chức hoạt động sôi nổi nhất của thôn, ấp.
Thập niên 1990: điều, cao su lên ngôi và di dân tự do
Từ cuối thập niên 1980 và suốt thập niên 1990, khi kinh tế thị trường mở ra và cây điều, cao su, tiêu mang lại thu nhập rõ rệt, vùng đất đỏ Bình Phước cũ trở thành điểm đến hấp dẫn của người đi tìm đất. Không chỉ đi theo kế hoạch, hàng loạt gia đình tự tìm đến, mua lại đất của người đến trước hoặc khai phá đất rừng, mở rộng vườn.
Trong làn sóng này có một bộ phận lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số từ miền núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao và một số dân tộc khác. Họ rời các tỉnh biên giới phía Bắc vào phía Nam tìm đất sản xuất, nhiều người dừng chân ở Tây Nguyên, một phần đến các huyện vùng cao Bình Phước, trong đó có Bù Gia Mập. Sự có mặt của họ làm bức tranh dân tộc của vùng phong phú thêm, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về quản lý đất đai, hộ khẩu, trường lớp trong những năm đầu.
Di dân tự do diễn ra nhanh hơn khả năng quy hoạch của chính quyền địa phương. Nhiều điểm dân cư tự phát mọc lên trong rừng hoặc ven rừng, thiếu đường, điện, trường. Các chương trình ổn định dân di cư tự do sau đó phải giải quyết hệ quả: sắp xếp lại dân cư, cấp đất, đưa điện, mở trường. Rừng tự nhiên ở nhiều nơi bị thu hẹp trong giai đoạn này, một bài học được nhắc lại khi bàn về bảo vệ Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
Các làn sóng di dân: ai đến, đến thế nào
Bảng dưới phân biệt các làn sóng di dân chính lên vùng Bù Gia Mập. Thời gian là theo giai đoạn lớn, các làn sóng có lúc chồng lên nhau.
| Làn sóng | Thời gian | Người đến | Hình thức |
|---|---|---|---|
| Kinh tế mới | Cuối thập niên 1970 – 1980 | Người Kinh từ đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, đô thị phía nam | Theo kế hoạch, được cấp đất, hỗ trợ ban đầu |
| Nông trường, lâm trường | Từ sau 1975 | Công nhân, cán bộ quốc doanh | Theo đơn vị, sống trong khu tập thể |
| Bộ đội làm kinh tế | Sau 1975, nhất là vùng biên | Quân nhân, gia đình quân nhân | Theo đơn vị, sau ở lại định cư |
| Di dân tự do | Thập niên 1990 – đầu 2000 | Người Kinh và đồng bào dân tộc phía Bắc | Tự tìm đến, mua hoặc khai phá đất |
| Lao động thời vụ, buôn bán | Từ thập niên 2000 | Người từ nhiều tỉnh | Theo mùa vụ, một phần ở lại |
Các làn sóng không tách rời: người đi kinh tế mới viết thư về quê gọi họ hàng lên, người lính ở lại đón vợ con, người di cư tự do đến vì nghe người đi trước kể. Chính các mạng lưới họ hàng, đồng hương ấy tạo nên những thôn mà phần lớn cư dân cùng gốc một tỉnh, một huyện ở miền Bắc hay miền Trung.
Từ điểm dân cư đến xã: con đường hình thành chung
Không có tài liệu công khai đầy đủ về lịch sử lập từng xã ở Bù Gia Mập, nhưng các xã vùng khai hoang miền Đông thường đi qua những bước giống nhau. Hiểu con đường này giúp đọc đúng lịch sử của chính thôn, xã mình:
- Điểm dân cư đầu tiên: vài chục hộ dựng nhà tạm ven một con suối hay một con đường mòn, phát rừng làm rẫy, chưa có tên chính thức, thường gọi theo tên suối, tên đội sản xuất hay số thứ tự.
- Thành ấp, thôn: khi dân đông lên, chính quyền xã gần nhất lập ấp, cử trưởng ấp, đặt tên ấp; trường học, trạm xá tạm bằng tre nứa mọc lên.
- Tách xã mới: khi một xã cũ quá rộng và quá đông, vài ấp được tách ra lập xã mới, đặt tên mới, thường là tên Hán Việt mang ý tốt lành.
- Có hạ tầng: đường cấp phối rồi đường nhựa, điện lưới, trường kiên cố, trạm y tế, chợ xã.
- Ổn định và sắp xếp lại: qua các đợt điều chỉnh địa giới, xã được chuyển huyện, chia tách hoặc gộp, như lần sắp xếp năm 2025.
Nhiều xã của Bù Gia Mập được tách lập trong các thập niên 1980–2000, tức là còn rất trẻ so với tuổi của các làng xã ở đồng bằng. Có những người cao tuổi ở đây đã chứng kiến trọn vẹn cả quá trình, từ lúc thôn chỉ là vài mái nhà tạm cho đến lúc xã được gộp vào một xã lớn hơn. Ngày tháng thành lập cụ thể của từng xã có thể tra trong các quyết định chia tách đơn vị hành chính, lưu tại xã hoặc trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật.
Dấu vết của khai hoang trong đời sống hôm nay
Giọng nói pha trộn. Đi qua các thôn ở Bù Gia Mập có thể nghe đủ giọng Bắc, giọng Nghệ Tĩnh, giọng Quảng, giọng miền Tây và tiếng của đồng bào. Thế hệ sinh ra ở đây thường nói giọng Nam pha, nhưng về nhà vẫn nghe giọng quê của ông bà, cha mẹ.
Tên thôn, ấp mang tên quê cũ hoặc tên số. Nhiều thôn mang tên số thứ tự từ thời lập khu kinh tế mới, một số mang tên gợi quê gốc của người đến khai phá. Tên ấp như vậy là chứng tích sống của lịch sử di dân.
Ẩm thực đa vùng. Mâm cơm nhà người gốc Bắc có canh cua, dưa cà; nhà gốc Trung có mắm, có ớt; nhà đồng bào có cơm lam, canh thụt, măng rừng. Chợ ở các xã bán đủ thứ phục vụ nhiều khẩu vị.
Đình, chùa, nhà thờ, nhà văn hoá. Người đến từ các vùng khác nhau mang theo tập quán sinh hoạt cộng đồng của quê mình, dựng nên các thiết chế văn hoá đa dạng. Đây là những công trình gắn với lịch sử lập thôn của từng cộng đồng.
Quan hệ đất đai phức tạp. Đất trải qua nhiều lần sang tay, từ khai phá, mua bán giấy tay đến cấp sổ chính thức. Hồ sơ đất ở vùng này thường có lịch sử phức tạp, cần kiểm kỹ khi giao dịch.
Từ người khai hoang đến người địa phương
Sau bốn đến năm thập niên, những người từng là "dân kinh tế mới", "dân di cư" nay đã là người Bù Gia Mập. Con cháu họ sinh ra, lớn lên ở đây, coi vườn điều, rừng xanh, đường đất đỏ là quê hương. Nhiều người đã về thăm quê gốc ở miền Bắc, miền Trung và thấy mình như khách; quê thật của họ giờ là Bù Gia Mập.
Thế hệ trẻ đang có lựa chọn khác với ông bà: đi học đại học ở thành phố, làm việc ở các khu công nghiệp phía nam tỉnh Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh. Một phần quay lại lập trang trại, mở cơ sở chế biến, kinh doanh dịch vụ. Dòng người lại bắt đầu chảy theo chiều ngược lại, từ vùng khai hoang về đô thị.
Câu chuyện khai hoang Bù Gia Mập vì thế chưa khép lại. Nó là một chương của lịch sử di dân lớn ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên sau 1975, nơi hàng triệu người đã đi tìm đất, đổi đời và tạo nên những cộng đồng mới. Ghi lại câu chuyện của từng gia đình, từng thôn là cách để thế hệ sau hiểu mình từ đâu đến.
Câu hỏi thường gặp
Người dân Bù Gia Mập phần lớn quê gốc ở đâu?
Ngoài đồng bào S'tiêng, M'nông bản địa, phần lớn cư dân là người Kinh gốc từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, cùng đồng bào các dân tộc thiểu số từ miền núi phía Bắc lên lập nghiệp sau năm 1975.
Kinh tế mới là gì?
Kinh tế mới là chủ trương phân bố lại dân cư và lao động sau năm 1975, đưa người từ vùng đông dân lên khai phá các vùng đất mới, được cấp đất và hỗ trợ ban đầu để sản xuất nông nghiệp. Vùng đồi đất đỏ phía bắc miền Đông là một trong những điểm đến chính.
Vì sao ở Bù Gia Mập có người Tày, Nùng, Dao?
Từ thập niên 1990, nhiều gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc di cư vào phía Nam tìm đất sản xuất. Một phần dừng chân ở các huyện vùng cao Bình Phước cũ, trong đó có Bù Gia Mập, rồi định cư lâu dài.
Di dân tự do để lại hệ quả gì?
Di dân tự do diễn ra nhanh khiến nhiều điểm dân cư hình thành thiếu quy hoạch, thiếu đường, điện, trường, và làm rừng tự nhiên bị thu hẹp. Chính quyền sau đó phải thực hiện các chương trình ổn định dân cư, cấp đất và đầu tư hạ tầng.
Mua đất ở Bù Gia Mập cần lưu ý gì về lịch sử thửa đất?
Nhiều thửa đất có lịch sử sang tay phức tạp, từ khai phá, mua bán giấy tay đến cấp sổ. Cần kiểm sổ đỏ, quy hoạch, ranh giới với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và hỏi xã về tình trạng tranh chấp trước khi giao dịch.
Có tài liệu nào ghi lại lịch sử khai hoang vùng này không?
Các cuốn lịch sử, địa chí của tỉnh Bình Phước cũ và các huyện có phần về di dân, kinh tế mới. Nguồn phong phú nhất vẫn là ký ức của các gia đình, các hội đồng hương, hội cựu chiến binh ở từng thôn, ấp.