Chủ nhân đầu tiên của vùng Bù Gia Mập là người S'tiêng và người M'nông, hai dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, sinh sống ở vùng rừng núi giáp ranh giữa miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Campuchia từ rất lâu trước khi có các đơn vị hành chính hiện nay. Họ sống thành từng sóc, từng bon, làm rẫy luân canh, săn bắt, hái lượm, và đặt tên cho suối, đồi, rừng theo tiếng của mình.
Lịch sử cư trú của họ đi qua nhiều biến động: thời Pháp mở đồn điền và đường sá, thời chiến tranh bị dồn dân và ly tán, rồi sau 1975 là các chương trình định canh định cư và làn sóng người Kinh, người các dân tộc phía Bắc lên lập nghiệp. Bài này kể lại các giai đoạn ấy ở góc lịch sử vùng đất; phần văn hoá, lễ hội, nghề truyền thống được viết riêng trong mục đồng bào và văn hoá của trang.
Trước thế kỷ 20: vùng rừng của các sóc, bon
Trong nhiều thế kỷ, vùng đồi rừng phía bắc miền Đông là không gian sống của các cộng đồng S'tiêng, M'nông và một số nhóm khác. Họ không có biên giới theo kiểu nhà nước hiện đại; ranh giới là ranh giới giữa các sóc, các vùng rẫy, được thừa nhận qua tập quán và qua sự hiểu biết của các già làng. Đường biên giới Việt Nam – Campuchia hiện nay cắt ngang qua vùng cư trú truyền thống ấy, nên có những nhóm cùng dân tộc, cùng ngôn ngữ sống ở cả hai bên.
Người S'tiêng thường được ghi nhận là dân tộc bản địa đông nhất ở vùng Bình Phước cũ, cư trú tập trung ở các vùng Bù Đăng, Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Bình Long và rải rác ở các vùng lân cận. Người M'nông có vùng cư trú chính ở cao nguyên phía bắc thuộc Đắk Nông, Đắk Lắk cũ, và mở xuống phía nam tới các xã vùng biên của Bù Gia Mập. Ở vùng giáp ranh như Đắk Ơ, Bù Gia Mập, hai cộng đồng sống gần nhau, có giao lưu, kết hôn và ảnh hưởng lẫn nhau.
Phương thức sống chủ yếu là làm rẫy theo chu kỳ: phát một khoảnh rừng, đốt, trồng lúa rẫy, bắp, bầu bí vài vụ, rồi để đất nghỉ cho rừng tái sinh và chuyển sang khoảnh khác. Cách làm này cần một không gian rừng rộng và một mật độ dân cư thấp, điều mà vùng Bù Gia Mập có được cho tới giữa thế kỷ 20.
Thời Pháp: đồn điền, đường sá và những cuộc kháng cự
Đầu thế kỷ 20, người Pháp mở rộng kiểm soát lên vùng cao miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Họ lập đồn binh, mở đường, thu thuế, bắt phu, và quan trọng nhất là chiếm đất làm đồn điền cao su ở vùng đất đỏ phía nam như Phú Riềng, Lộc Ninh, Bình Long. Không gian rẫy của đồng bào bị thu hẹp, nhiều sóc phải dời sâu vào rừng.
Sự xâm nhập ấy gặp phản kháng. Nổi tiếng nhất là phong trào của người M'nông do N'Trang Lơng lãnh đạo, kéo dài nhiều năm trong khoảng từ thập niên 1910 đến giữa thập niên 1930, hoạt động ở vùng rừng giáp ranh giữa cao nguyên M'nông, vùng Phước Long và phía Campuchia. Các tài liệu lịch sử ghi nhận nhiều trận đánh vào đồn Pháp và sự tham gia của nhiều buôn sóc. Phạm vi hoạt động cụ thể ở từng vùng như Bù Gia Mập ngày nay thì cần đối chiếu các nghiên cứu chuyên sâu.
Thời kỳ này cũng là lúc những ghi chép đầu tiên về địa danh, phong tục của người bản địa vùng này xuất hiện trong tài liệu của các nhà dân tộc học, quan chức và giáo sĩ người Pháp. Các ghi chép ấy có giá trị tư liệu, nhưng cần đọc với con mắt phê phán vì được viết từ góc nhìn của người cai trị.
Thời chiến tranh: ly tán và những vết hằn
Trong các cuộc kháng chiến, đồng bào S'tiêng, M'nông ở vùng Bù Gia Mập sống giữa hai làn đạn. Nhiều sóc nằm trong vùng căn cứ, tham gia nuôi giấu, tiếp tế, dẫn đường cho lực lượng kháng chiến. Ở các vùng khác, chính quyền Sài Gòn thực hiện các chương trình dồn dân vào khu tập trung, ấp chiến lược để tách dân khỏi lực lượng kháng chiến. Nhiều gia đình phải rời rẫy cũ, rời mồ mả tổ tiên, sống trong điều kiện thiếu thốn.
Bom đạn và chất độc hoá học làm rừng bị tàn phá ở nhiều nơi, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn sống của người làm rẫy. Sự xáo trộn dân cư trong chiến tranh làm nhiều sóc bị chia tách, có người chạy sang bên kia biên giới, có người về các vùng khác. Khi hoà bình trở lại, không phải sóc nào cũng trở về được nơi ở cũ.
Những vết hằn ấy giải thích một phần vì sao bản đồ cư trú của đồng bào hiện nay khác với trước chiến tranh, và vì sao một số sóc mang tên cũ nhưng nằm ở vị trí mới. Với người làm địa chí, tên sóc vì thế là manh mối quan trọng: một tên sóc lặp lại ở hai nơi có thể chính là dấu vết của một cuộc di chuyển trong chiến tranh hoặc sau hoà bình.
Các giai đoạn thay đổi trong đời sống cư trú
Bảng dưới gói lại các giai đoạn chính trong lịch sử cư trú của đồng bào bản địa vùng Bù Gia Mập. Mốc thời gian là ước chừng theo các giai đoạn lớn, không phải ngày tháng chính xác.
| Giai đoạn | Hình thức cư trú | Tác động chính |
|---|---|---|
| Trước thế kỷ 20 | Sóc, bon giữa rừng; rẫy luân canh | Không gian rừng rộng, dân thưa, tự quản theo tập quán |
| Thời Pháp | Sóc dời sâu vào rừng; một phần bị bắt phu | Mất đất cho đồn điền, đồn binh; nổi dậy kháng cự |
| Thời chiến tranh | Vùng căn cứ và khu dồn dân xen kẽ | Ly tán, rừng bị tàn phá, sóc bị chia tách |
| Sau 1975 – thập niên 1990 | Định canh định cư, lập các điểm dân cư cố định | Chuyển dần từ rẫy luân canh sang trồng cây lâu năm |
| Từ thập niên 2000 | Thôn, ấp có đường, điện, trường; xen cư với người Kinh và dân tộc khác | Đất rẫy thu hẹp, chuyển sang trồng điều, cao su, làm thuê |
Đọc bảng theo chiều dọc thấy một xu hướng nhất quán: không gian rừng tự do thu hẹp dần, đời sống chuyển từ rừng sang vườn, từ tự cung tự cấp sang gắn với thị trường. Mỗi bước chuyển mang lại một số điều kiện sống tốt hơn, nhưng cũng làm mất dần những tri thức và tập quán gắn với rừng.
Sau 1975: định canh định cư và những chương trình hỗ trợ
Sau năm 1975, Nhà nước thực hiện các chương trình định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao: vận động chuyển từ rẫy luân canh sang canh tác cố định, lập các điểm dân cư tập trung có đất ở, đất sản xuất, trường học, trạm xá. Ở vùng Bù Gia Mập, nhiều thôn, ấp có đông đồng bào hình thành trong quá trình này.
Từ cuối thập niên 1990 và các thập niên sau, các chương trình hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn, hỗ trợ đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, giao khoán bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai. Các xã như Bù Gia Mập, Đắk Ơ, Bình Thắng, Đa Kia từng thuộc diện được ưu tiên trong nhiều chương trình. Hiệu quả của các chương trình khác nhau theo thời kỳ và theo từng nơi; có nơi đời sống cải thiện rõ, có nơi đồng bào vẫn thiếu đất sản xuất.
Một thách thức kéo dài là chuyện đất đai. Khi người từ nơi khác lên lập nghiệp và giá trị đất vườn tăng, một số hộ đồng bào bán hoặc sang nhượng đất, rồi thiếu đất sản xuất. Đây là vấn đề được nhắc nhiều trong các báo cáo về vùng đồng bào ở Bình Phước cũ, và cũng là lý do các chính sách về đất cho đồng bào luôn được đặt ra.
Viết và nói về lịch sử đồng bào: những nguyên tắc nên giữ
Gọi đúng tên dân tộc. Dùng tên chính thức S'tiêng, M'nông, có dấu nháy, tránh các cách gọi chung chung như "người Thượng" hay các tên gọi miệt thị từng xuất hiện trong quá khứ.
Không coi đồng bào là "người đến sau" hay "người cần được khai hoá". Họ là chủ nhân vùng đất, có hệ thống tri thức về rừng, về đất, về luật tục được đúc kết qua nhiều thế hệ. Mọi câu chuyện lịch sử vùng Bù Gia Mập nên bắt đầu từ họ.
Phân biệt các cộng đồng. Người S'tiêng và M'nông là hai dân tộc khác nhau, có ngôn ngữ và tập quán riêng, bên trong mỗi dân tộc lại có nhiều nhóm địa phương. Không nên gộp chung thành một khối đồng nhất.
Lắng nghe người trong cộng đồng. Các già làng, người uy tín là nguồn hiểu biết đáng tin nhất về lịch sử sóc, bon. Khi viết, nên ghi rõ người kể và tôn trọng mong muốn của họ về việc chia sẻ.
Không phô bày theo kiểu lạ hoá. Lịch sử và văn hoá đồng bào không phải để biến thành món hàng "kỳ bí" cho du khách. Kể đúng, kể có bối cảnh, kể với sự tham gia của chính cộng đồng, và nếu có thu lợi từ câu chuyện thì cộng đồng cũng phải được hưởng phần xứng đáng.
Hôm nay: xen cư và giữ gìn bản sắc
Ngày nay, ở bốn xã vùng Bù Gia Mập, đồng bào S'tiêng, M'nông sống xen cư với người Kinh và người các dân tộc khác từ phía Bắc lên. Nhiều thôn có cả ba, bốn dân tộc cùng sinh sống. Trẻ em đi học chung trường, người lớn làm chung vườn, chung chợ. Sự giao lưu ấy mang lại cơ hội, nhưng cũng đặt ra nguy cơ mai một tiếng nói và tập quán nếu không có ý thức giữ gìn.
Các hoạt động bảo tồn cồng chiêng, dạy tiếng dân tộc, khôi phục lễ hội, giữ nghề dệt thổ cẩm, đan lát đang được duy trì ở nhiều nơi với các mức độ khác nhau. Trường phổ thông dân tộc nội trú là nơi con em đồng bào được học tập và cũng là nơi giữ bản sắc.
Hiểu lịch sử cư trú của đồng bào là cách để người mới đến Bù Gia Mập cư xử cho đúng: biết rằng mình đang sống trên vùng đất có chủ nhân lâu đời, tôn trọng những khu rừng, những con suối mang tên gọi bản địa, và nhìn nhận đồng bào như những người hàng xóm bình đẳng chứ không như đối tượng để quan sát.
Câu hỏi thường gặp
Người S'tiêng và người M'nông có phải cùng một dân tộc không?
Không. Đây là hai dân tộc khác nhau trong 54 dân tộc Việt Nam, cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer nhưng có ngôn ngữ và tập quán riêng. Người S'tiêng tập trung nhiều ở vùng Bình Phước cũ, người M'nông chủ yếu ở cao nguyên phía bắc.
Ở Bù Gia Mập, đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung ở đâu?
Đồng bào sống ở nhiều thôn, ấp trong cả bốn xã, đông hơn ở các xã phía bắc và tây nam như Bù Gia Mập, Đăk Ơ và vùng Bình Thắng, Đa Kia cũ. Ở nhiều thôn, đồng bào sống xen cư với người Kinh và các dân tộc khác.
N'Trang Lơng là ai?
N'Trang Lơng là thủ lĩnh người M'nông lãnh đạo phong trào chống thực dân Pháp kéo dài nhiều năm trong khoảng từ thập niên 1910 đến giữa thập niên 1930, hoạt động ở vùng rừng giáp ranh giữa cao nguyên M'nông, vùng Phước Long cũ và Campuchia.
Định canh định cư là gì?
Đó là chương trình vận động đồng bào chuyển từ làm rẫy luân canh, di chuyển theo chu kỳ, sang sống ở các điểm dân cư cố định và canh tác trên đất cố định. Chương trình được triển khai rộng ở vùng cao sau năm 1975, kèm hỗ trợ đất ở, nhà ở, trường học.
Có nơi nào để tìm hiểu lịch sử đồng bào ở vùng này không?
Có thể tìm hiểu qua các bảo tàng tỉnh, các công trình nghiên cứu dân tộc học về người S'tiêng, M'nông, và trực tiếp qua các già làng ở các thôn. Khi đến thăm sóc, nên đi cùng cán bộ xã hoặc người địa phương quen biết.
Đồng bào ở Bù Gia Mập hiện nay sống bằng nghề gì?
Phần lớn sống bằng trồng điều, cao su, cây ăn trái, làm rẫy và làm thuê theo mùa vụ. Một số hộ nhận giao khoán bảo vệ rừng. Lớp trẻ đi học nhiều hơn, một phần làm việc ở các khu công nghiệp hoặc đô thị phía nam.