Phần lớn hộ dân ở Bù Gia Mập dùng nước giếng đào hoặc giếng khoan, chỉ một số khu trung tâm có nước máy; điện lưới đã phủ đến hầu hết các thôn nhưng ở cuối nguồn, gần rừng, điện có thể yếu và hay mất trong mùa mưa giông. Người mới về sống cần lo ba việc: có nguồn nước đủ dùng cả mùa khô, xử lý nước cho sạch trước khi uống, và có phương án khi mất điện.
Những chuyện này nghe nhỏ, nhưng là lý do nhiều gia đình mới đến thấy vất vả trong năm đầu. Bài này đi theo nhịp hai mùa của vùng: mùa khô lo nước, mùa mưa lo điện và lo nước đục, kèm những cách làm người địa phương đã dùng lâu năm.
Nước sinh hoạt đến từ đâu
Ở các thôn, nguồn nước quen thuộc nhất là giếng đào, đường kính khoảng một mét, sâu tuỳ chỗ, xây thành bằng gạch hoặc ống bê tông. Giếng đào lấy nước tầng nông, rẻ, dễ làm, nhưng dễ cạn vào cuối mùa khô và dễ nhiễm bẩn nếu gần chuồng trại, nhà vệ sinh hoặc vườn phun thuốc. Giếng khoan đi sâu hơn, lấy nước tầng dưới, ổn định hơn qua mùa khô nhưng tốn chi phí khoan và cần bơm điện.
Ở khu trung tâm một số xã có hệ thống cấp nước tập trung, gọi chung là nước máy nông thôn. Mức độ phủ, chất lượng và độ ổn định của các công trình này khác nhau giữa từng nơi; có chỗ chạy tốt, có chỗ hoạt động không đều. Muốn biết nhà mình có nối được không, hỏi ủy ban nhân dân xã hoặc đơn vị quản lý công trình cấp nước của khu vực.
Một số hộ gần suối dùng thêm nước suối cho tưới vườn, chăn nuôi. Nước suối vùng rừng nhìn trong nhưng có thể mang vi sinh vật, đất cát và dư lượng phân thuốc từ vườn phía trên, không nên dùng để uống trực tiếp. Nước mưa hứng từ mái nhà là nguồn dự phòng tốt trong mùa mưa nếu mái sạch và bồn chứa có nắp.
Mùa khô: chuyện nước là chuyện lớn
Khi nào thiếu nước. Mùa khô ở vùng này thường kéo dài từ khoảng tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Những tuần cuối mùa, trước khi mưa trở lại, là lúc giếng đào nông dễ cạn hoặc chỉ còn ít nước đục. Năm nào mưa đến muộn thì càng căng.
Ai thiếu trước. Nhà ở trên đỉnh đồi, giếng đào nông, vùng đất nhiều đá ong thường thiếu trước. Vườn tiêu, vườn sầu riêng cần tưới nhiều cũng cạnh tranh nước với sinh hoạt; ở một số khu, tưới vườn bằng giếng khoan sâu có thể làm giếng nông quanh đó hạ mực nước.
Cách chuẩn bị. Hộ dân thường đào sâu thêm giếng trong mùa khô, khoan thêm giếng, trữ nước bằng bồn inox hoặc bồn nhựa, xây bể chứa. Ưu tiên nước giếng cho ăn uống, tắm giặt; dùng nước tái sử dụng cho tưới rau, lau nhà. Gia đình mới xây nhà nên tính chỗ đặt bể chứa ngay từ đầu.
Mua nước khi cạn. Ở một số nơi, khi giếng cạn hẳn, người dân mua nước chở bằng xe bồn hoặc xin nước từ nhà có giếng khoan sâu. Đây là phương án tình thế; về lâu dài, khoan giếng sâu hoặc nối nước máy (nếu có) vẫn bền hơn.
Nước giếng có uống được không: lọc và kiểm tra
Nước giếng ở vùng đất đỏ thường trong, nhưng "trong" không đồng nghĩa với sạch. Nước tầng nông có thể nhiễm vi sinh vật từ nhà vệ sinh, chuồng trại; nước giếng khoan đôi khi có sắt, mangan làm nước có mùi tanh, để lâu ngả vàng, bám cặn đỏ vào thau chậu. Ở vùng trồng cây công nghiệp, dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cũng là mối lo nếu giếng gần vườn phun thuốc.
Cách an toàn nhất là đun sôi nước trước khi uống. Nhiều gia đình lắp thêm bộ lọc: lọc thô bằng cát, sỏi, than để bớt cặn và sắt, rồi dùng máy lọc gia đình cho nước uống. Khi chọn máy lọc, hỏi người bán xem loại lõi đó xử lý được vấn đề gì (cặn, sắt, vi khuẩn, hoá chất), tránh mua theo quảng cáo chung chung.
Nếu định ở lâu dài, đặc biệt là nhà có trẻ nhỏ, nên lấy mẫu nước giếng đi xét nghiệm ở cơ sở có chức năng (trung tâm kiểm soát bệnh tật của tỉnh, phòng thí nghiệm môi trường). Kết quả xét nghiệm cho biết nước có vấn đề gì để chọn đúng cách xử lý, thay vì đoán mò.
Giữ cho giếng sạch: những việc nên làm
Phần lớn ô nhiễm giếng đến từ chính khu vườn quanh nhà. Một vài thói quen đơn giản giúp nước giếng an toàn hơn.
- Giếng đặt xa nhà vệ sinh, hố xí, chuồng heo, chuồng gà; nếu nhà cũ đã lỡ đặt gần thì cân nhắc khoan giếng mới ở vị trí khác.
- Thành giếng xây cao hơn mặt đất, có nắp đậy, sân giếng láng xi măng và có rãnh thoát nước để nước bẩn không chảy ngược vào.
- Không pha thuốc bảo vệ thực vật, không rửa bình phun cạnh giếng; vỏ chai thuốc gom lại, không vứt xuống hố quanh vườn.
- Sau mùa mưa lũ hoặc khi nước đột nhiên đục, có mùi, nên thau giếng và hỏi trạm y tế xã về cách khử trùng phù hợp.
- Bồn chứa nước vệ sinh định kỳ, có nắp kín để tránh muỗi đẻ trứng — đây cũng là cách phòng sốt xuất huyết.
Những việc này không tốn nhiều tiền nhưng phải làm đều. Ở các thôn, trạm y tế và cán bộ y tế thôn thường có tài liệu hướng dẫn, có khi phát cả hoá chất khử trùng khi có dịch; hãy hỏi họ khi cần.
Điện: phủ rộng nhưng chưa đều
Điện lưới quốc gia đã về đến hầu hết các thôn của bốn xã. Ở khu trung tâm và dọc trục đường chính, điện tương đối ổn định. Càng vào sâu, càng gần rừng và biên giới thì đường dây càng dài, cuối nguồn điện áp có thể yếu vào giờ cao điểm buổi tối, khi cả xóm bật bơm, quạt, nồi cơm cùng lúc.
Mùa mưa là mùa mất điện. Dông sét, gió lốc làm cây đổ đè đường dây, sét đánh vào trạm biến áp; sửa chữa ở vùng đồi, đường trơn mất nhiều thời gian hơn đô thị. Mùa khô thì có lúc cắt điện theo lịch để bảo trì, phát quang hành lang tuyến. Lịch cắt điện thường được đơn vị điện lực thông báo trước qua tin nhắn, ứng dụng hoặc loa thôn.
Nhà vườn xa đường dây đôi khi phải tự kéo điện vào bằng dây riêng qua nhiều cột gỗ, cột tre. Kiểu kéo này nguy hiểm: dây võng thấp, mối nối hở, chạm cây ướt khi mưa. Muốn có điện an toàn, hãy liên hệ đơn vị điện lực khu vực để được tư vấn lắp công tơ, kéo đường dây đúng chuẩn, đừng tự đấu nối.
Chuẩn bị cho những ngày mất điện
Một gia đình ở vùng này nên có sẵn một bộ dự phòng nhỏ. Không cần đắt tiền, chỉ cần đúng việc.
- Đèn sạc, đèn pin và pin dự phòng; sạc điện thoại dự phòng luôn đầy, nhất là trong mùa mưa.
- Bồn nước đầy trên cao để vẫn có nước khi bơm không chạy.
- Bếp gas hoặc bếp củi dự phòng nếu nhà quen nấu bằng bếp điện.
- Ổn áp hoặc thiết bị chống sét lan truyền cho tủ lạnh, máy bơm, tivi, máy tính — sét là nguyên nhân hỏng đồ điện hay gặp.
- Máy phát điện nhỏ chạy xăng nếu nhà làm kinh doanh, có tủ đông, hoặc có người bệnh cần thiết bị y tế dùng điện; đặt máy ngoài trời thoáng, không chạy trong phòng kín.
- Một số hộ lắp điện mặt trời áp mái có lưu trữ; trước khi lắp nên hỏi kỹ về bảo hành, chống sét và tính toán nhu cầu thực tế.
Khi có dông, rút phích các thiết bị không cần thiết, không đứng dưới gốc cây lớn hay gần cột điện, và tránh dùng điện thoại đang cắm sạc. Những điều này nghe quen nhưng mỗi mùa mưa vẫn có sự cố vì chủ quan.
Nước và điện cho vườn, chăn nuôi
Nhà ở Bù Gia Mập hiếm khi chỉ là nhà ở; phần lớn kèm vườn và ít nhiều chăn nuôi. Vì vậy chuyện nước, điện phải tính cả cho sản xuất. Vườn điều trưởng thành phần lớn sống nhờ nước mưa, nhưng vườn tiêu, sầu riêng, cà phê, rau màu cần tưới trong mùa khô, có khi tưới nhiều lần mỗi tuần. Nước tưới thường lấy từ giếng khoan riêng, ao đào trữ nước mưa hoặc bơm từ suối.
Ao trữ nước là cách nhiều hộ dùng: đào ao ở chỗ trũng trong vườn, lót bạt chống thấm nếu đất giữ nước kém, hứng nước mưa cả mùa để dành cho mùa khô. Ao cần rào chắn quanh bờ vì trẻ nhỏ đuối nước ở ao vườn là tai nạn có thật ở nông thôn. Bơm từ suối thì cần hỏi xã về quy định sử dụng nguồn nước, nhất là suối chảy qua rừng hay qua đất nhà khác.
Về điện, máy bơm tưới công suất lớn, máy sấy nông sản, máy xay xát cần nguồn điện khoẻ, có khi phải dùng điện ba pha. Ở cuối đường dây, chạy máy lớn có thể làm sụt áp cả xóm, cháy mô tơ. Nếu định làm sản xuất có máy móc, hãy hỏi điện lực khu vực về khả năng cấp điện trước khi mua đất hoặc đầu tư máy. Chuồng heo, chuồng gà cũng cần đèn, quạt, máy bơm rửa chuồng; tách đường điện chuồng trại khỏi điện nhà ở giúp dễ kiểm soát và an toàn hơn.
Hoá đơn điện nước gồm những gì
Tiền điện của hộ gia đình tính theo bậc thang theo biểu giá điện sinh hoạt hiện hành: dùng càng nhiều, các số điện sau càng đắt. Ở vùng nông thôn, những thứ đẩy hoá đơn lên là máy bơm giếng khoan chạy lâu trong mùa khô, tủ đông, máy lạnh trong những tháng nóng và các thiết bị dùng cho chăn nuôi. Nếu nhà vừa ở vừa sản xuất, nên hỏi điện lực về cách đăng ký mục đích sử dụng điện cho đúng.
Nước giếng thì không có hoá đơn hằng tháng, nhưng có chi phí ẩn: tiền khoan hoặc đào giếng ban đầu, tiền máy bơm và thay máy bơm, tiền điện bơm, tiền vật liệu lọc, thau giếng, và khi cạn thì tiền mua nước. Nhà dùng nước máy nông thôn trả theo giá của đơn vị cấp nước tại địa phương.
Một cách theo dõi đơn giản là ghi số công tơ điện đầu mỗi tháng và ghi lại các lần chi cho giếng, bơm, lọc trong một cuốn sổ. Sau một năm, bạn sẽ biết mùa nào tốn nhất, thiết bị nào ngốn điện, để điều chỉnh: chuyển giờ bơm, thay bóng đèn tiết kiệm điện, tắt tủ đông khi không dùng. Người mới đến thường đánh giá thấp chi phí nước trong năm đầu, vì chưa trải qua một mùa khô trọn vẹn.
Câu hỏi thường gặp
Ở Bù Gia Mập nên khoan giếng hay đào giếng?
Giếng đào rẻ và dễ làm nhưng dễ cạn cuối mùa khô và dễ nhiễm bẩn. Giếng khoan ổn định hơn qua mùa khô, phù hợp hộ dùng nhiều nước. Hỏi hàng xóm xung quanh về độ sâu và chất lượng nước của giếng họ trước khi chọn.
Nước giếng có màu vàng, mùi tanh là bị gì?
Thường là nước có sắt hoặc mangan, hay gặp ở giếng khoan. Có thể xử lý bằng bể lọc có lớp vật liệu khử sắt, sục khí rồi lắng. Nếu nước có mùi lạ khác hoặc gia đình có người bị tiêu chảy kéo dài, hãy đem mẫu nước đi xét nghiệm.
Mất điện lâu ở thôn thì báo ở đâu?
Báo cho đơn vị điện lực quản lý khu vực qua tổng đài chăm sóc khách hàng của ngành điện hoặc ứng dụng của điện lực, đồng thời báo trưởng thôn để gom thông tin. Ghi lại thời gian mất điện và hiện tượng thấy được như cây đổ, dây đứt.
Có dùng nước suối để nấu ăn được không?
Không nên dùng trực tiếp. Nước suối vùng rừng có thể chứa vi sinh vật và dư lượng phân thuốc từ vườn phía trên. Nếu bắt buộc phải dùng, hãy lắng, lọc và đun sôi kỹ trước khi nấu ăn hay uống.
Có nên lắp điện mặt trời ở Bù Gia Mập không?
Nắng mùa khô nhiều nên điện mặt trời có lợi, nhất là cho nhà hay mất điện hoặc có máy bơm. Tuy nhiên cần tính đúng nhu cầu, chọn đơn vị lắp đặt có bảo hành rõ ràng, có chống sét, và hỏi điện lực về quy định đấu nối nếu muốn hoà lưới.