Vùng Bù Gia Mập (trước 7/2025 là huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nay là bốn xã Bù Gia Mập, Đa Kia, Đăk Ơ và Phú Nghĩa thuộc tỉnh Đồng Nai) là nơi nhiều dân tộc cùng sống: người S'tiêng và người M'nông là cư dân bản địa lâu đời, đồng bào Tày, Nùng, Dao và một số dân tộc phía Bắc khác vào lập nghiệp từ cuối thế kỷ 20, còn người Kinh đến qua nhiều đợt khai hoang, làm nông trường và trồng cây công nghiệp. Mỗi nhóm mang theo tiếng nói, lối làm nhà, lễ tết và cách tổ chức xóm làng riêng, rồi dần đan vào nhau qua chợ, trường học và vườn điều.
Người mới đến làm việc, mở cửa hàng hay đi du lịch thường chỉ thấy lớp ngoài: nhà xây giống nhau, xe máy chở mủ cao su, quán tạp hoá đầu thôn. Lớp bên trong là một cộng đồng có nhiều tầng lịch sử. Bài này phác lại bức tranh đó theo từng nhóm, nói rõ chỗ nào đã có tài liệu, chỗ nào chỉ là quan sát chung, để bạn hiểu người mình đang gặp và tránh những ngộ nhận phổ biến.
Cư dân bản địa: người S'tiêng và người M'nông
Vùng đất phía bắc Bình Phước cũ, giáp tỉnh Đắk Nông cũ và biên giới Campuchia, từ lâu là địa bàn cư trú của người S'tiêng (trong danh mục các dân tộc Việt Nam viết là Xtiêng) và người M'nông (viết là Mnông). Cả hai cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, sống bằng làm rẫy, săn bắt, hái lượm theo mùa trong rừng, cư trú thành những làng nhỏ mà người S'tiêng gọi là sóc, người M'nông gọi là bon.
Trong lịch sử, ranh giới giữa hai nhóm không phải đường kẻ trên giấy. Ở vùng giáp ranh, người S'tiêng và M'nông qua lại, cưới hỏi, trao đổi chiêng, ché, nên có những sóc nói được cả hai thứ tiếng. Ở Bù Gia Mập, người S'tiêng thường được nhắc là đông hơn, còn người M'nông tập trung ở những thôn gần phía Đắk Nông cũ. Con số cụ thể theo từng xã thay đổi qua mỗi lần điều tra dân số và sau sáp nhập chưa có bảng công bố riêng cho bốn xã mới, nên khi cần số liệu, bạn nên hỏi ủy ban nhân dân xã nơi mình làm việc.
Đời sống của hai cộng đồng này đã thay đổi rất nhiều trong vài chục năm. Rẫy luân canh nhường chỗ cho vườn điều, cao su; nhà dài nhường chỗ cho nhà xây riêng từng hộ; con cháu đi học nội trú, đi làm công nhân ở các khu công nghiệp xa. Nhưng tiếng mẹ đẻ, quan hệ họ hàng, vai trò của người già và những dịp tụ họp bên ché rượu cần vẫn còn, và đó là thứ người ngoài cần tôn trọng trước tiên.
Đồng bào phía Bắc vào lập nghiệp
Từ những năm 1990, cùng với nhiều địa phương ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, Bù Gia Mập đón một dòng người từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào tìm đất. Đông nhất là người Tày, người Nùng; ngoài ra có người Dao và một số dân tộc khác. Phần lớn đi theo họ hàng, người trước rủ người sau, mua lại đất rẫy hoặc khai phá đất trống, rồi lập thành những xóm khá đông người cùng quê.
Những xóm này nhìn qua rất dễ nhận ra: nhà hay có vườn rau trồng theo kiểu miền Bắc, mâm cỗ ngày Tết có bánh chưng, thịt lợn quay, có nơi còn giữ cách gói bánh và làm xôi màu theo nếp cũ. Tiếng Tày, tiếng Nùng vẫn được dùng trong nhà, trong khi ra chợ thì nói tiếng phổ thông. Thế hệ sinh ra ở Bù Gia Mập phần đông nói giọng pha, đi học cùng bạn S'tiêng và bạn Kinh, ít còn nhớ quê gốc như ông bà.
Với người mới đến làm ăn, điều đáng biết là cộng đồng phía Bắc ở đây gắn kết theo dòng họ và theo quê cũ rất chặt. Đám cưới, đám ma, làm nhà mới đều có họ hàng góp công góp sức. Muốn hợp tác thu mua nông sản hay thuê nhân công thời vụ, quen một người có tiếng nói trong xóm thường hiệu quả hơn mọi tờ rơi dán ở chợ.
Người Kinh: từ nông trường đến vườn điều
Người Kinh có mặt ở vùng đất này từ thời đồn điền cao su và tăng mạnh sau năm 1975 qua các đợt đi vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường. Sau đó là làn sóng mua đất trồng điều, tiêu khi giá nông sản lên, cùng những người làm thương mại, dịch vụ theo chân. Họ đến từ nhiều nơi: miền Trung, đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh miền Tây và cả những vùng lân cận như Phước Long, Đồng Xoài.
Vì nguồn gốc đa dạng như vậy, người Kinh ở Bù Gia Mập không có một giọng nói hay một kiểu nhà chung. Một con đường liên thôn có thể có tiệm sửa xe của người Nghệ An, quán bún của người Huế, đại lý phân bón của người miền Tây. Khu trung tâm của huyện cũ ở Phú Nghĩa và khu vực quanh chợ Đa Kia là những nơi người Kinh tập trung buôn bán đông hơn, còn ở các thôn sâu thì họ sống xen với đồng bào dân tộc thiểu số.
Quan hệ giữa người Kinh và người bản địa có cả hợp tác lẫn va chạm, đặc biệt quanh chuyện mua bán đất rẫy trong những năm trước. Đó là một phần lịch sử địa phương mà người mới nên biết để hiểu vì sao chính quyền và các đoàn thể ở đây thường nhấn mạnh chuyện giữ đất sản xuất cho đồng bào, và vì sao một số giao dịch đất ở vùng đồng bào cần kiểm kỹ giấy tờ.
Nhận diện nhanh các cộng đồng
Bảng dưới đây gom những nét dễ nhận thấy để bạn hình dung, không phải định nghĩa. Trong thực tế mỗi gia đình một khác, và ranh giới giữa các nhóm ngày càng mờ đi qua hôn nhân, học hành, làm ăn.
| Cộng đồng | Có mặt từ | Cách gọi làng | Nét văn hoá dễ thấy |
|---|---|---|---|
| S'tiêng | Lâu đời, cư dân bản địa | Sóc | Cồng chiêng, rượu cần, đan gùi, dệt vải |
| M'nông | Lâu đời, vùng giáp Đắk Nông cũ | Bon | Cồng chiêng, tục ở rể ở nhiều nhóm, nghề đan |
| Tày, Nùng, Dao | Chủ yếu từ thập niên 1990 | Thôn, xóm theo quê | Tết theo nếp miền Bắc, hát then, trang phục chàm |
| Kinh | Từ thời đồn điền, đông sau 1975 | Thôn, ấp | Đa dạng theo quê gốc, đông ở khu chợ, trung tâm xã |
Tên các thôn, sóc, bon cụ thể đã nhiều lần được sắp xếp lại, nhất là sau khi bỏ cấp huyện năm 2025. Khi cần đến một sóc nào đó, nên hỏi tên thôn hiện hành tại xã thay vì dựa vào bản đồ cũ.
Bốn xã, bốn sắc thái
Xã Bù Gia Mập giữ nguyên tên và ranh giới cũ, nằm sát Vườn quốc gia và biên giới, có tỉ lệ đồng bào S'tiêng, M'nông cao. Đời sống ở đây gắn với rừng nhiều hơn, các sóc nằm rải rác dọc đường liên thôn, và những dịp lễ của đồng bào vẫn còn tổ chức theo cộng đồng.
Xã Đa Kia mới gồm Đa Kia, Phước Minh và Bình Thắng cũ. Đây là vùng có chợ và giao thương khá sôi động, người Kinh và người S'tiêng sống xen, cùng nhiều xóm đồng bào phía Bắc. Xã Phú Nghĩa mới gồm Đức Hạnh, Phú Nghĩa và Phú Văn cũ, trong đó Phú Nghĩa từng là nơi đặt trụ sở huyện, nên có nhiều cơ quan, trường học và dịch vụ hơn. Xã Đăk Ơ giữ tên cũ, nằm về phía biên giới, có đông đồng bào dân tộc thiểu số và nhiều hộ trồng điều, cao su.
Những khác biệt này không cố định, nhưng giúp bạn đoán trước được nhịp sống: ở trung tâm Phú Nghĩa, Đa Kia, bạn gặp người Kinh nhiều hơn và mọi thứ vận hành như một thị trấn nhỏ; vào sâu Bù Gia Mập, Đăk Ơ, nhịp sống chậm hơn, quan hệ cộng đồng dày hơn, và một lời chào đúng cách có giá trị hơn nhiều so với một tấm danh thiếp.
Văn hoá chung hình thành từ chợ, trường và vườn điều
Ngoài những nét riêng, các cộng đồng ở Bù Gia Mập đã có một lớp văn hoá chung. Chợ là nơi người S'tiêng mang măng, rau rừng, chuối ra bán, người Tày bán rau cải, người Kinh bán đồ khô, tạp hoá. Mùa điều là mùa cả xã cùng bận: nhà nào cũng nhặt hạt, phơi hạt, thương lái các nơi về thu mua. Trường học, nhất là trường nội trú dân tộc, là nơi trẻ em các dân tộc lớn lên cùng nhau và nói chung một thứ tiếng.
Các ngày lễ lớn của nhà nước như Tết Nguyên đán, ngày Quốc khánh, Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam 19/4 thường có văn nghệ, thể thao với sự góp mặt của nhiều dân tộc: đội cồng chiêng của đồng bào bản địa, tiết mục múa của người Tày, bóng chuyền của thanh niên các thôn. Đó là dịp tốt để người mới đến nhìn thấy sự đa dạng của nơi mình đang sống mà không phải làm phiền đời sống riêng của ai.
Lớp văn hoá chung ấy cũng đặt ra câu hỏi bảo tồn. Khi mọi người cùng dùng tiếng phổ thông, cùng xem một kênh truyền hình, cùng xây một kiểu nhà, những nét riêng như tiếng S'tiêng, nghề dệt, bài chiêng cổ dễ mất dần. Các bài khác trong mục này đi sâu từng nét riêng đó và những việc đang được làm để giữ lại.
Tiếng nói trong đời sống hằng ngày
Đi một vòng chợ Đa Kia hay khu trung tâm Phú Nghĩa vào buổi sáng, bạn có thể nghe ba bốn thứ tiếng trong vài phút: tiếng S'tiêng của hai bà cụ bán măng, tiếng Tày của nhóm phụ nữ đi chợ cùng nhau, giọng Nghệ, giọng Quảng của người bán hàng khô. Tiếng phổ thông là cầu nối, nhưng cách mọi người nói tiếng phổ thông cũng mang dấu quê gốc, nên người mới đến đôi khi cần nghe lại vài lần.
Trong cơ quan, trường học, trạm y tế, mọi việc dùng tiếng phổ thông. Tuy vậy, với người già S'tiêng, M'nông ở các thôn sâu, tiếng phổ thông có khi chưa thạo, nhất là khi nói về giấy tờ, bệnh tật, hợp đồng. Trong những tình huống đó, nhờ một người trong gia đình hoặc cán bộ người dân tộc phiên dịch là cách làm cẩn trọng, tránh để người già ký hay đồng ý điều mình chưa hiểu hết.
Với người làm kinh doanh hay làm dịch vụ, một nhân viên biết tiếng S'tiêng hoặc tiếng Tày là lợi thế rõ rệt. Không chỉ để giao tiếp, mà còn vì người nói được tiếng mẹ đẻ của khách thường được tin hơn, hiểu được những điều khách ngại nói thẳng, và biết lúc nào nên chờ thay vì thúc giục.
Câu hỏi thường gặp
Dân tộc nào đông nhất ở vùng Bù Gia Mập?
Người Kinh chiếm phần đông dân số chung, còn trong các dân tộc thiểu số thì người S'tiêng thường được nhắc là đông nhất, tiếp đến người M'nông và các dân tộc phía Bắc như Tày, Nùng. Số liệu chính xác theo từng xã mới sau sáp nhập nên hỏi trực tiếp ủy ban nhân dân xã.
S'tiêng và Xtiêng có phải là một không?
Là một. Xtiêng là cách viết trong danh mục chính thức các dân tộc Việt Nam, còn S'tiêng là cách viết phổ biến trên báo chí và trong đời sống ở Bình Phước cũ. Tương tự, Mnông là cách viết chính thức, M'nông là cách viết quen dùng.
Đồng bào Tày, Nùng ở Bù Gia Mập đến từ đâu?
Phần lớn đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc, đi thành từng đợt từ khoảng những năm 1990 theo họ hàng, đồng hương. Họ lập thành những xóm có đông người cùng quê, vẫn giữ tiếng nói và nhiều phong tục ngày Tết, cưới hỏi theo nếp cũ.
Người mới đến làm việc nên chú ý gì khi tiếp xúc với đồng bào?
Nên chào hỏi người lớn tuổi trước, nói chậm, rõ, không tự ý vào nhà hay chụp ảnh khi chưa được mời, và khi cần làm việc với cả thôn thì đi qua trưởng thôn, già làng hoặc người có uy tín. Sự kiên nhẫn và giữ lời hứa được đánh giá cao hơn mọi thứ khác.
Có nơi nào để tìm hiểu văn hoá S'tiêng gần Bù Gia Mập không?
Trong vùng, các sóc ở xã Bù Gia Mập, Đăk Ơ vẫn còn sinh hoạt cồng chiêng, đan lát. Xa hơn một chút, sóc Bom Bo ở huyện Bù Đăng cũ là nơi nổi tiếng gắn với văn hoá S'tiêng và có khu bảo tồn. Trước khi đi nên hỏi chính quyền xã về lịch sinh hoạt văn hoá.
Sau khi sáp nhập vào Đồng Nai, đời sống văn hoá có gì thay đổi?
Về đời sống hằng ngày gần như không đổi: người dân vẫn ở sóc, ở thôn cũ, giữ lễ tết của mình. Thay đổi chủ yếu nằm ở bộ máy hành chính, tên tỉnh trên giấy tờ và cách tổ chức các ngày hội văn hoá, nay do tỉnh Đồng Nai mới và các xã đảm nhận.