Hai nghề tay truyền thống của đồng bào S'tiêng, M'nông ở vùng Bù Gia Mập là dệt vải và đan lát: phụ nữ dệt vải trên khung dệt đeo lưng để may khố, váy, áo, chăn; đàn ông đan gùi, giỏ, nong, nia từ mây, tre, lồ ô lấy trong rừng. Ngày nay đồ dùng hằng ngày phần lớn mua ở chợ, nên số người còn làm hai nghề này giảm nhiều, tập trung ở người lớn tuổi và một số tổ, nhóm được hỗ trợ bảo tồn.
Bài viết giới thiệu quy trình cơ bản của hai nghề, ý nghĩa của gùi và tấm vải trong đời sống, thực trạng ở bốn xã Bù Gia Mập, Đa Kia, Đăk Ơ, Phú Nghĩa, và cách mua đồ thủ công sao cho người làm nghề thật sự được lợi. Mô tả về kỹ thuật là khái quát; mỗi người thợ có cách làm riêng.
Khung dệt đeo lưng và tấm vải truyền thống
Khung dệt của phụ nữ S'tiêng, M'nông thuộc loại khung dệt đeo lưng, phổ biến ở nhiều dân tộc vùng cao nguyên và Đông Nam Á. Người dệt ngồi duỗi chân trên sàn, một đầu khung buộc vào cột nhà hoặc gốc cây, đầu kia vòng qua lưng; dùng sức ngả người để căng sợi dọc, rồi luồn sợi ngang, dập chặt bằng thanh gỗ. Khung đơn giản, tháo ra cuộn lại được, nhưng đòi hỏi người dệt khéo tay và kiên nhẫn.
Vì khung đeo lưng, khổ vải hẹp, thường chỉ vừa một sải tay; muốn có tấm chăn hay váy rộng phải dệt nhiều tấm rồi ghép lại. Một tấm vải có hoa văn có thể mất nhiều ngày đến vài tuần, tuỳ độ dài và độ cầu kỳ. Ngày trước, sợi được kéo từ bông tự trồng, nhuộm bằng lá, vỏ cây, rễ cây; nay phần lớn người dệt dùng sợi công nghiệp mua sẵn với màu bền hơn.
Vải của đồng bào thường có nền tối như chàm sẫm, đen, trên đó dệt những dải hoa văn màu đỏ, trắng, vàng chạy dọc mép hoặc thành hàng ngang. Hoa văn lấy cảm hứng từ đời sống: hình hạt lúa, con rết, mắt chim, cành cây, hình thoi, hình răng cưa. Tên gọi và ý nghĩa của từng hoa văn khác nhau giữa các nhóm; những cách giải thích phổ biến trên mạng nên được đối chiếu với lời của chính người dệt.
Từ khố, váy đến chăn và địu
Trang phục truyền thống của đàn ông là khố, quấn quanh hông, có tấm áo choàng hoặc áo ngắn; phụ nữ mặc váy quấn và áo. Trong đời sống hằng ngày ở Bù Gia Mập hôm nay, hầu như không ai mặc như vậy: quần áo may sẵn mua ở chợ tiện và rẻ hơn nhiều. Trang phục truyền thống được mặc vào dịp lễ hội, cưới hỏi, biểu diễn cồng chiêng, hoặc khi chụp ảnh kỷ niệm.
Những sản phẩm dệt còn được dùng nhiều hơn là chăn đắp, tấm địu con, khăn, túi đeo. Một tấm chăn dệt tay dày, ấm, dùng được nhiều năm; một tấm địu dệt đẹp là món quà mẹ chuẩn bị cho con gái khi lấy chồng ở một số gia đình. Trong lễ cưới truyền thống, vải dệt cũng là một phần sính lễ hoặc quà tặng giữa hai họ.
Các đội cồng chiêng, đội văn nghệ của sóc thường được hỗ trợ may trang phục truyền thống để biểu diễn. Có những bộ được may từ vải dệt tay, có bộ dùng vải in hoa văn mô phỏng mua từ nơi khác. Người tinh ý có thể nhận ra sự khác nhau: vải dệt tay dày, mép hơi không đều, hoa văn nổi; vải in mỏng, phẳng, màu sắc đều tăm tắp.
Đan gùi và đồ mây tre
Gùi là vật dụng gắn với người S'tiêng, M'nông như chiếc nón với người Kinh. Gùi đeo trên lưng bằng hai quai, dùng mang lúa, củi, nước, rau, măng, hạt điều, mang con nhỏ đi rẫy. Có gùi đan thưa để đựng củi, gùi đan dày để đựng lúa gạo, gùi nhỏ cho trẻ em tập đeo, gùi có nắp, có hoa văn để đi chơi, đi lễ. Mỗi loại có kích thước, cách đan và tên gọi riêng.
Vật liệu chính là mây, tre, lồ ô, nứa. Người đan vào rừng chọn cây đủ tuổi, chẻ thành nan, vót mỏng đều, phơi hoặc hun khói cho bền và có màu nâu đẹp. Gùi được đan từ đáy lên, nan dọc làm khung, nan ngang đan cài, đến miệng gùi thì nẹp vành bằng tre to hoặc mây. Có người đan xen nan đã nhuộm đen để tạo hoa văn hình học trên thân gùi.
Ngoài gùi, đàn ông còn đan nong, nia, giỏ đựng cơm, giỏ đựng cá, bồ chứa lúa, ống tre đựng đồ. Đan lát là việc của mùa nông nhàn, ngồi bên bếp lửa hoặc dưới hiên nhà. Hiện nay, khi việc vào rừng lấy mây, tre bị hạn chế, nhiều người phải mua lại nguyên liệu hoặc dùng tre trồng trong vườn, và một số chuyển sang dùng dây nhựa để đan, bền nhưng mất đi vẻ tự nhiên.
Hai nghề tay: so sánh nhanh
Bảng dưới đây giúp hình dung sự phân công và thực trạng của hai nghề ở các sóc, bon trong vùng; con số người làm nghề không có thống kê chính thức nên chỉ mô tả theo xu hướng.
| Khía cạnh | Dệt vải | Đan lát |
|---|---|---|
| Người làm chính | Phụ nữ | Đàn ông |
| Nguyên liệu | Sợi bông, nay chủ yếu sợi công nghiệp | Mây, tre, lồ ô, nứa; có nơi thêm dây nhựa |
| Sản phẩm | Khố, váy, áo, chăn, địu, khăn, túi | Gùi, giỏ, nong, nia, bồ, ống đựng |
| Thời gian | Nhiều ngày đến vài tuần mỗi tấm | Vài ngày mỗi chiếc gùi tuỳ cỡ |
| Thực trạng | Ít người dệt thường xuyên, chủ yếu người lớn tuổi | Còn khá nhiều người lớn tuổi biết đan, ít người trẻ học |
Đan lát còn giữ được tốt hơn dệt vì gùi, giỏ vẫn có công dụng thật trong đời sống nông nghiệp, trong khi vải dệt tay khó cạnh tranh với vải công nghiệp về giá.
Vì sao nghề tay đang mai một
Lý do lớn nhất là kinh tế. Một phụ nữ dệt một tấm vải trong nhiều ngày, bán được ít hơn số tiền đi làm thuê nhặt điều hay cạo mủ trong cùng thời gian. Một chiếc gùi đan tay mất vài ngày công, trong khi bao tải, thùng nhựa mua ở chợ rẻ và tiện. Khi nghề không nuôi được người, lớp trẻ không có lý do để học.
Lý do thứ hai là nguyên liệu. Rừng được bảo vệ, đặc biệt trong Vườn quốc gia và rừng phòng hộ, nên việc vào lấy mây, lồ ô không còn tự do như xưa. Bông không còn được trồng, cây nhuộm màu khó tìm. Người làm nghề phải mua nguyên liệu, làm tăng chi phí và giảm tính riêng của sản phẩm.
Lý do thứ ba là thay đổi lối sống. Thanh niên đi học, đi làm xa, mặc quần áo như mọi người, ít khi cần gùi hay váy truyền thống. Khi người già không còn, những kỹ thuật dệt hoa văn khó, cách nhuộm bằng cây rừng, cách đan những loại gùi cầu kỳ có thể mất hẳn. Đây là lý do các chương trình bảo tồn thường ưu tiên mở lớp để người già dạy trực tiếp cho người trẻ.
Mua đồ thủ công sao cho đúng
Nếu muốn mua một tấm vải, một chiếc gùi làm quà hay dùng trong nhà, mấy gợi ý sau giúp tiền đến đúng tay người làm và bạn có món đồ thật:
- Mua trực tiếp từ người làm hoặc qua tổ, nhóm, hội phụ nữ ở xã; hỏi chính quyền xã, trưởng thôn để được giới thiệu.
- Hỏi người làm về nguyên liệu, thời gian làm, ý nghĩa hoa văn; câu chuyện đi kèm làm món đồ có giá trị hơn.
- Chấp nhận giá người làm đưa ra, cân nhắc số ngày công họ bỏ ra; mặc cả quá mức với hàng thủ công là thiệt cho người giữ nghề.
- Phân biệt hàng dệt tay với vải in mô phỏng: hàng dệt tay dày, mép không hoàn toàn đều, mặt trái thấy sợi hoa văn.
- Không mua gùi, vải cũ là vật gia truyền nếu thấy gia đình bán vì túng thiếu; nên khuyến khích họ giữ lại.
- Nếu đặt làm số lượng lớn cho sự kiện, quà tặng, hãy đặt sớm, thoả thuận rõ mẫu mã, thời gian và trả trước một phần.
Những đơn hàng đều đặn, dù nhỏ, có tác dụng giữ nghề hơn những đợt mua dồn rồi thôi. Một vài cơ quan, trường học trong vùng đã chọn đồ dệt, đồ đan của đồng bào làm quà tặng khách, là cách làm đáng học.
Những cách giữ nghề đang được thử
Ở Bình Phước cũ, các lớp truyền dạy dệt thổ cẩm cho phụ nữ trẻ, tổ hợp tác dệt, câu lạc bộ đan lát đã được tổ chức ở nhiều xã có đông đồng bào, thường gắn với chương trình bảo tồn văn hoá dân tộc thiểu số. Hiệu quả phụ thuộc vào việc sau lớp học có đầu ra cho sản phẩm hay không. Nơi nào tìm được người mua đều đặn, nghề sống; nơi nào chỉ học cho có, nghề lại tắt.
Một hướng được nhắc nhiều là làm sản phẩm mới từ vải dệt truyền thống: túi xách, ví, khăn quàng, bao gối, đồ trang trí, phù hợp với nhu cầu của người thành phố và khách du lịch. Hướng này cần sự kết nối với người thiết kế, cửa hàng, và cần giữ chất lượng ổn định. Với đồ đan, có thể làm giỏ đựng đồ, chao đèn, đồ trang trí nhà cửa.
Sau sáp nhập, việc hỗ trợ nghề thủ công của đồng bào ở bốn xã thuộc trách nhiệm của các xã và tỉnh Đồng Nai mới. Người dân và doanh nghiệp địa phương có thể góp phần bằng cách đặt hàng, giới thiệu sản phẩm, hoặc đưa đồ dệt, đồ đan vào không gian cửa hàng, quán cà phê, homestay của mình, kèm thông tin về người làm.
Chiếc gùi trong một ngày mùa điều
Muốn hiểu vì sao gùi vẫn còn chỗ đứng, hãy theo một gia đình đồng bào ra vườn vào giữa mùa điều. Từ sáng sớm, người phụ nữ đeo gùi đi dọc các hàng cây, cúi nhặt những trái điều chín rụng, vặn lấy hạt bỏ vào gùi. Gùi để trên lưng nên hai tay rảnh, đi giữa những luống đất dốc, rễ cây và cỏ dại vẫn vững hơn xách giỏ hay kéo bao. Khi gùi đầy, họ đổ ra bao tải ở đầu lô, rồi lại tiếp tục.
Buổi trưa, gùi được dùng mang cơm nước, có khi mang cả đứa con nhỏ ra vườn. Chiều về, gùi đựng thêm ít củi khô, bó rau, vài búp măng hái được dọc đường. Trẻ em trong sóc tập đeo những chiếc gùi nhỏ từ sớm, theo mẹ ra vườn nhặt hạt như một trò chơi rồi thành thói quen.
Vì được dùng nhiều như vậy, gùi đan tay cũng hỏng nhanh hơn, cần thay thường xuyên. Đó là lý do nhiều ông già trong sóc vẫn đan đều đặn mỗi mùa nông nhàn, đan cho nhà mình, cho con cháu, thừa thì bán cho hàng xóm. Một chiếc gùi tốt, đan chặt, nan đều, vành chắc là niềm tự hào của người đan, và người trong sóc nhìn qua là biết gùi của ai làm.
Câu hỏi thường gặp
Thổ cẩm S'tiêng có đặc điểm gì?
Thường là vải nền tối như chàm sẫm, đen, có những dải hoa văn màu đỏ, trắng, vàng chạy dọc mép hoặc thành hàng ngang, dệt trên khung đeo lưng nên khổ hẹp. Hoa văn lấy từ đời sống như hạt lúa, mắt chim, hình thoi; ý nghĩa cụ thể nên hỏi chính người dệt.
Ở Bù Gia Mập còn ai dệt vải không?
Còn nhưng không nhiều, chủ yếu là phụ nữ lớn tuổi ở các sóc, bon thuộc xã Bù Gia Mập, Đăk Ơ và một số thôn khác, cùng các tổ, lớp được hỗ trợ bảo tồn. Muốn tìm người dệt, nên hỏi hội phụ nữ hoặc ủy ban nhân dân xã.
Gùi có những loại nào?
Có gùi đan thưa đựng củi, gùi đan dày đựng lúa gạo, gùi nhỏ cho trẻ em, gùi có nắp và hoa văn dùng khi đi chơi, đi lễ. Mỗi loại có kích thước, cách đan và tên gọi riêng bằng tiếng mẹ đẻ, khác nhau giữa người S'tiêng và M'nông.
Làm sao phân biệt vải dệt tay với vải in?
Vải dệt tay dày, mép không hoàn toàn đều, hoa văn nổi lên do sợi dệt, mặt trái nhìn thấy các sợi hoa văn chạy ngang. Vải in mỏng, phẳng, màu đều, hoa văn chỉ có ở mặt phải. Hỏi người bán về người dệt và thời gian làm cũng giúp nhận biết.
Có nên mặc cả khi mua đồ thủ công của đồng bào?
Có thể trao đổi nhẹ nhàng, nhưng nên tính đến số ngày công người làm bỏ ra. Một tấm vải dệt tay có thể mất nhiều ngày đến vài tuần. Mặc cả quá mức khiến người giữ nghề thiệt thòi và càng ít người muốn tiếp tục làm.
Vì sao đan lát còn giữ tốt hơn dệt vải?
Vì gùi, giỏ, nong, nia vẫn có công dụng trong đời sống nông nghiệp hằng ngày như mang hạt điều, rau, củi, trong khi vải dệt tay khó cạnh tranh về giá với quần áo, vải công nghiệp. Tuy vậy, lớp trẻ học đan cũng đang ít dần.