Ở vùng Bù Gia Mập có những xóm mà đi vào như về một bản ở Cao Bằng, Lạng Sơn: tiếng Tày, tiếng Nùng trong nhà, mâm cỗ Tết có bánh chưng gù, khâu nhục, xôi ngũ sắc, có nơi vẳng tiếng đàn tính, lời then. Đó là những xóm của đồng bào Tày, Nùng, Dao và một số dân tộc miền núi phía Bắc khác vào lập nghiệp, phần đông từ khoảng thập niên 1990, theo đường họ hàng, đồng hương.
Bài viết kể lại cách các cộng đồng này đến, lập xóm và làm ăn ở Bù Gia Mập, những gì họ giữ được từ quê cũ, những gì đổi khác, và vị trí của họ trong đời sống chung của bốn xã. Những chi tiết về phong tục là mô tả chung về văn hoá Tày, Nùng, Dao; mỗi gia đình ở đây giữ đến đâu là chuyện khác nhau.
Vì sao người miền núi phía Bắc vào Bù Gia Mập
Những năm cuối thế kỷ 20, đất canh tác ở nhiều vùng núi phía Bắc chật hẹp, dốc, bạc màu, trong khi Tây Nguyên và vùng Bình Phước cũ còn nhiều đất đỏ bazan, rừng thưa có thể khai phá, và cây điều, cà phê, cao su đang mở ra cơ hội. Tin tức truyền qua người đi trước: một người vào làm ăn được, gửi thư, gọi điện về quê, rồi họ hàng, hàng xóm lần lượt theo vào.
Nhiều gia đình bán ruộng, bán nhà ở quê, mang theo vốn liếng ít ỏi và cả họ hàng vào nhận đất, mua lại rẫy, có lúc chịu nhiều vất vả vì sốt rét, thiếu nước, đường sá chưa có. Thời gian đầu, nhà cửa tạm bợ, con cái chưa có chỗ học, giấy tờ đất đai và hộ khẩu chưa hoàn chỉnh. Phải mất nhiều năm, các xóm này mới ổn định, được công nhận thành thôn, có điện, có đường.
Ngày nay, thế hệ thứ hai, thứ ba của những gia đình này đã sinh ra và lớn lên ở Bù Gia Mập. Họ coi vùng đất đỏ là quê, trong khi quê gốc ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Kạn hay Tuyên Quang là nơi ông bà kể lại, thỉnh thoảng mới về thăm vào dịp giỗ chạp, cưới hỏi.
Câu chuyện của những gia đình này giống câu chuyện của nhiều vùng đất đỏ ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên trong cùng thời kỳ, nhưng ở Bù Gia Mập nó có thêm một lớp: vùng biên, rừng quốc gia, và cư dân bản địa S'tiêng, M'nông đã ở đó từ trước. Hiểu được thứ tự đến trước, đến sau ấy giúp người mới đến nhìn các mối quan hệ trong vùng một cách công bằng hơn.
Xóm theo dòng họ và quê cũ
Cách lập xóm của đồng bào phía Bắc ở đây có một nét rõ: người cùng dòng họ, cùng quê thường ở gần nhau. Một xóm có thể phần đông là người Tày cùng một huyện ở Cao Bằng, xóm khác là người Nùng từ Lạng Sơn, xóm kia có cụm người Dao. Nhờ vậy, tiếng nói và phong tục được giữ tốt hơn so với khi sống rải rác.
Trong xóm, quan hệ họ hàng chi phối nhiều việc: làm nhà có anh em đến giúp, đám cưới đám ma cả họ cùng lo, vay mượn lúc túng thiếu cũng tìm đến người trong họ. Những người lớn tuổi, có hiểu biết về phong tục, thường được mời đứng ra lo các việc lễ nghi. Ở một số nơi, các dòng họ lập ban liên lạc, giữ gia phả, tổ chức gặp mặt hằng năm.
Với người ngoài đến làm việc, hiểu cấu trúc này giúp ích nhiều. Muốn thuê nhân công mùa điều, mời tham gia hợp tác xã, triển khai một chương trình y tế hay giáo dục, nói chuyện với người có uy tín trong dòng họ, trong xóm thường hiệu quả hơn là thông báo chung chung. Ngược lại, làm mất lòng một người có thể khiến cả họ dè dặt.
Tết và các dịp lễ theo nếp quê cũ
Tết Nguyên đán là dịp quan trọng nhất trong năm với người Tày, Nùng, giống người Kinh nhưng có những nét riêng. Bánh chưng của người Tày thường là bánh chưng gù hoặc bánh chưng đen, gói dài, có khi trộn gạo với tro lá; người Nùng có món khâu nhục, thịt lợn quay, xôi màu. Ở Bù Gia Mập, nhiều gia đình vẫn cố gói bánh, làm cỗ theo kiểu quê cũ, dù một số nguyên liệu phải mua hoặc thay thế.
Ngoài Tết Nguyên đán, người Tày, Nùng còn có Tết Thanh minh, Tết Đoan ngọ mùng năm tháng năm, rằm tháng bảy, Tết cơm mới vào cuối năm ở một số nơi. Lễ hội Lồng tồng, tức xuống đồng, là lễ hội đầu năm nổi tiếng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc; ở các vùng đồng bào phía Bắc sống tập trung tại phía Nam, có nơi phục dựng lễ hội này trong dịp đầu xuân, quy mô tuỳ từng địa phương.
Người Dao có những lễ riêng, nổi tiếng nhất là lễ cấp sắc, một nghi lễ trưởng thành quan trọng với đàn ông Dao. Ở các cộng đồng Dao sống xa quê như ở Bù Gia Mập, việc tổ chức lễ này phụ thuộc vào việc có thầy cúng am hiểu hay không, nhiều gia đình phải mời thầy từ nơi khác. Đây là phần văn hoá dễ mất nhất khi cộng đồng nhỏ và sống xa quê gốc.
Hát then, đàn tính và tiếng hát giao duyên
Then và đàn tính. Hát then với cây đàn tính là loại hình gắn với người Tày, Nùng, đã được UNESCO ghi danh năm 2019 là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”. Ở Bù Gia Mập, vẫn có người biết đàn tính, hát then trong các dịp vui, ngày hội của thôn, xã.
Hát sli, hát lượn. Người Nùng có hát sli, người Tày có hát lượn, là lối hát đối đáp giao duyên giữa trai gái, thường hát trong dịp Tết, hội, đám cưới. Ở vùng xa quê, những người còn hát được phần lớn là người trung niên, lớn tuổi, đã học từ khi còn ở quê.
Văn nghệ ở thôn. Nhiều thôn có đội văn nghệ, trong đó các tiết mục múa, hát của người Tày, Nùng thường xuất hiện bên cạnh cồng chiêng của người S'tiêng và tiết mục của người Kinh. Đây là nơi lớp trẻ có dịp tiếp xúc với lời ca, điệu múa của ông bà.
Thách thức truyền dạy. Con cháu sinh ra ở Bù Gia Mập nói tiếng phổ thông là chính, nhiều em không còn hiểu hết lời then, lời sli bằng tiếng Tày, Nùng. Việc giữ tiếng mẹ đẻ trong gia đình là điều kiện tiên quyết để những làn điệu này sống tiếp.
Làm ăn và hoà nhập ở vùng đất mới
Phần lớn gia đình Tày, Nùng, Dao ở Bù Gia Mập sống bằng vườn điều, cao su, có nơi trồng thêm tiêu, cà phê, cây ăn trái, nuôi heo, gà. Nhờ quen làm nông nghiệp trên đất dốc ở quê cũ, họ thích nghi khá nhanh với điều kiện đồi đất đỏ. Một số gia đình mở cửa hàng tạp hoá, đại lý vật tư, xưởng sửa xe, quán ăn ở khu chợ và trung tâm xã.
Quan hệ với người S'tiêng, M'nông và người Kinh nhìn chung là quan hệ láng giềng: cùng đi chợ, cùng làm thuê mùa điều, con cái học chung trường, có những đám cưới giữa người Tày với người Kinh, người Nùng với người S'tiêng. Những năm đầu, việc mua bán, khai phá đất cũng từng gây va chạm với người bản địa, và đó là chuyện cần nhìn thẳng khi nói về lịch sử vùng này.
Món ăn là phần lan toả rõ nhất: ở chợ trong vùng có thể gặp phở chua, bánh cuốn, lạp sườn, thịt lợn hun khói kiểu miền núi phía Bắc, măng chua, rau cải mèo do người Tày, Nùng làm và bán. Người Kinh và người S'tiêng ở đây quen dần với những món ấy, cũng như người Tày quen với hạt điều rang, cơm lam của đồng bào bản địa.
Giữ quê trong lòng ở nơi xa
Với những người lớn tuổi, việc giữ phong tục là cách giữ mối dây với quê gốc. Họ dạy con cháu gọi họ hàng đúng vai vế, cúng giỗ đúng ngày, giữ bàn thờ tổ tiên ở gian giữa. Nhiều gia đình vẫn giữ gia phả, có những dịp đưa con cháu về quê thăm mộ ông bà, thăm họ hàng còn ở lại.
Với lớp trẻ, quê là cả hai nơi. Các em lớn lên giữa vườn điều, nói giọng pha miền Nam, có bạn bè người S'tiêng, người Kinh, xem cùng một chương trình truyền hình. Nhiều em vẫn tự hào khi mặc áo chàm trong ngày hội, hát một bài then đơn giản, nhưng không phải em nào cũng còn nói thạo tiếng Tày, tiếng Nùng.
Sau sáp nhập năm 2025, các xóm đồng bào phía Bắc ở Bù Gia Mập thuộc tỉnh Đồng Nai, một tỉnh đông dân, nhiều khu công nghiệp. Một bộ phận thanh niên có thể sẽ đi làm ở các khu công nghiệp xa, rời vườn điều như cha mẹ đã rời ruộng bậc thang. Câu chuyện di cư, vì vậy, vẫn đang tiếp tục, chỉ đổi hướng. Điều còn lại là liệu tiếng nói, câu then, chiếc bánh chưng gù có đi theo các em đến nơi mới hay không.
Áo chàm và những đôi tay khéo của phụ nữ
Trang phục truyền thống của người Tày, Nùng nổi bật với màu chàm: áo dài, áo ngắn, khăn đội đầu nhuộm chàm sẫm, đơn giản, ít hoa văn. Người Dao thì khác hẳn, trang phục phụ nữ Dao có nhiều hoa văn thêu cầu kỳ, màu đỏ nổi bật, kèm vòng bạc và khăn đội đầu theo từng nhóm. Ở quê cũ, phụ nữ tự trồng chàm, nhuộm vải, cắt may, thêu thùa cho cả nhà.
Ở Bù Gia Mập, gần như không ai còn tự trồng chàm, nhuộm vải. Trang phục truyền thống được mua lại từ quê hoặc may sẵn, cất kỹ để mặc vào dịp Tết, đám cưới, ngày hội. Một số phụ nữ Dao lớn tuổi vẫn còn thêu, nhưng thường chỉ thêu những phần nhỏ như khăn, túi, đường viền tay áo, vì một bộ đồ thêu đầy đủ tốn rất nhiều thời gian.
Ngày hội văn hoá của xã là dịp hiếm hoi người ta thấy đủ sắc phục của các dân tộc cùng một chỗ: áo chàm của người Tày, Nùng, váy áo thêu đỏ của người Dao, khố váy dệt của người S'tiêng, M'nông và áo dài của người Kinh. Nhiều người lớn tuổi coi đó là dịp để con cháu biết mình thuộc về đâu, và để các dân tộc nhìn thấy nhau rõ hơn.
Câu hỏi thường gặp
Người Tày, Nùng ở Bù Gia Mập từ đâu đến?
Phần lớn đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang trước sáp nhập, đi thành nhiều đợt từ khoảng thập niên 1990 theo họ hàng, đồng hương, tìm đất trồng điều, cao su, cà phê.
Ở Bù Gia Mập có được nghe hát then không?
Có thể, nhất là trong các ngày hội văn hoá của thôn, xã, dịp Tết hoặc đám cưới của người Tày, Nùng. Người biết đàn tính, hát then không nhiều và phần lớn đã lớn tuổi, nên muốn nghe nên hỏi chính quyền xã hoặc người trong xóm.
Then của người Tày có phải di sản UNESCO không?
Có. Năm 2019, UNESCO ghi danh “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Then gắn với cây đàn tính và là một phần đời sống văn hoá của người Tày, Nùng.
Bánh chưng của người Tày khác bánh chưng người Kinh thế nào?
Người Tày thường gói bánh chưng dài hình trụ, có loại hơi cong gọi là bánh chưng gù, có nơi làm bánh chưng đen trộn gạo với tro lá. Nhân cũng gồm đậu xanh, thịt lợn nhưng cách gói và hương vị khác bánh chưng vuông của người Kinh.
Người Dao ở Bù Gia Mập còn giữ lễ cấp sắc không?
Có gia đình vẫn giữ, nhưng việc tổ chức phụ thuộc vào việc có thầy cúng am hiểu hay không, nhiều khi phải mời từ nơi khác. Ở các cộng đồng Dao nhỏ sống xa quê, lễ cấp sắc là phần văn hoá dễ bị mai một nhất.
Có dễ hoà nhập với các xóm đồng bào phía Bắc không?
Khá dễ nếu bạn tôn trọng người lớn tuổi, cư xử thật thà và giữ lời. Các xóm này gắn kết theo dòng họ, nên quen được một người có uy tín thì nhiều việc thuận lợi. Tham dự Tết, đám cưới khi được mời là cách nhanh nhất để được coi như người quen.