BuGiaMap.comBù Gia Mập
Vườn quốc gia, rừng và khí hậu

Nhận khoán bảo vệ rừng ở Bù Gia Mập: việc của tổ giữ rừng và quyền lợi người dân

Hộ dân, cộng đồng thôn sóc ở Bù Gia Mập có thể nhận khoán bảo vệ rừng. Công việc tuần tra cụ thể ra sao, quyền lợi và trách nhiệm thế nào, sinh kế nào đi được cùng rừng.

Three forest patrol members walking in single file along a narrow trail through bamboo and tall trees, seen from behind, carrying backpacks, early morning light

Ở các thôn, sóc sát vườn quốc gia và rừng phòng hộ của vùng Bù Gia Mập, nhiều hộ dân và nhóm cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng: chia nhau tuần tra một khoảnh rừng, báo khi có chặt phá, săn bắt, cháy, và đổi lại được nhận một khoản kinh phí cùng một số quyền lợi khác. Đây là hình thức Nhà nước dùng để kéo người sống gần rừng thành người giữ rừng.

Bài này đi qua công việc thật của một tổ bảo vệ rừng, quyền lợi và nghĩa vụ khi nhận khoán, những sinh kế có thể đi cùng rừng thay vì lấy từ rừng, và những điều người dân vùng đệm nên hỏi trước khi tham gia.

Khoán bảo vệ rừng là gì

Khoán bảo vệ rừng là hình thức chủ rừng — ở đây có thể là ban quản lý vườn quốc gia, ban quản lý rừng phòng hộ hay đơn vị lâm nghiệp — ký hợp đồng giao cho hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thôn bảo vệ một diện tích rừng xác định. Người nhận khoán có trách nhiệm tuần tra, phát hiện và báo cáo vi phạm, tham gia phòng cháy; chủ rừng trả kinh phí theo hợp đồng.

Luật Lâm nghiệp năm 2017 và các văn bản hướng dẫn tạo khung pháp lý cho hình thức này. Ở nhiều vùng rừng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo ở gần rừng được ưu tiên khi giao khoán, vì họ hiểu rừng và cũng cần nguồn thu ổn định.

Nguồn tiền trả cho người nhận khoán có thể đến từ ngân sách nhà nước, từ các chương trình, dự án lâm nghiệp, và từ khoản chi trả dịch vụ môi trường rừng mà các đơn vị dùng nước, dùng cảnh quan rừng phải nộp. Mức cụ thể khác nhau theo từng nơi, từng năm, từng loại rừng.

Một ngày tuần tra của tổ giữ rừng

Tổ bảo vệ rừng thường gồm vài người cùng thôn, chia ca đi tuần theo lịch. Một buổi tuần tra có thể bắt đầu từ sáng sớm, đi bộ theo các lối mòn quen thuộc qua khoảnh rừng được giao, kiểm tra những điểm hay có người vào: cửa rừng, bờ suối, khu vực giáp ranh với vườn của dân.

Việc chính là quan sát: có gốc cây mới bị cưa không, có dấu vết xe kéo gỗ, có bẫy dây giăng trên lối thú, có khói, có lều tạm của người lạ. Phát hiện bất thường, tổ ghi lại, chụp ảnh nếu được, báo cho kiểm lâm địa bàn. Tổ không có quyền bắt giữ hay xử phạt, và không nên đối đầu trực tiếp với người vi phạm có vũ khí.

Trong mùa khô, tuần tra tập trung vào phòng cháy: canh ở chòi cao, kiểm tra đường băng cản lửa, nhắc các hộ làm vườn sát rừng không đốt. Trong mùa mưa, việc tháo gỡ bẫy và kiểm tra chặt phá được chú ý hơn, vì đây là lúc người săn bẫy hay vào rừng.

Quyền lợi và trách nhiệm khi nhận khoán

Kinh phí khoán. Được trả theo diện tích và theo hợp đồng, thường theo năm hoặc theo đợt. Đây là nguồn thu phụ, không thay được thu nhập chính từ vườn, nhưng ổn định và giúp nhiều hộ khó khăn có thêm tiền mặt.

Một số quyền thu hái. Tuỳ loại rừng và quy định, người nhận khoán có thể được thu hái một số lâm sản ngoài gỗ theo hướng dẫn. Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của vườn quốc gia thì gần như không có quyền này.

Tập huấn, trang bị. Thành viên tổ thường được tập huấn về phòng cháy, nhận biết vi phạm, ghi chép tuần tra, và được trang bị dụng cụ cơ bản.

Trách nhiệm tuần tra, báo cáo. Nếu rừng được giao bị chặt phá, cháy mà người nhận khoán không phát hiện, không báo, có thể bị xem xét lại hợp đồng hoặc bị trừ kinh phí theo thoả thuận.

Không được tự ý sử dụng đất rừng. Nhận khoán bảo vệ không có nghĩa được quyền phát rừng làm rẫy hay chuyển nhượng. Đất vẫn thuộc chủ rừng, người nhận khoán chỉ có quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

Đồng bào bản địa và tri thức về rừng

Người S'tiêng, M'nông và các dân tộc bản địa khác ở vùng Bù Gia Mập có hiểu biết sâu về rừng: biết lối thú đi, biết mùa cây ra quả, biết con suối nào cạn sớm, chỗ nào lửa hay bùng. Những hiểu biết đó là lợi thế lớn khi tham gia bảo vệ rừng mà không sách vở nào thay được.

Nhiều cộng đồng có luật tục riêng về rừng: những khu rừng của làng không được chặt, những con suối đầu nguồn phải giữ, những luật lệ chia sẻ khi thu hái. Ở một số nơi, các quy ước này được đưa vào hương ước thôn, được chính quyền công nhận, trở thành công cụ quản lý rừng gần gũi với người dân.

Tôn trọng và phát huy tri thức ấy, thay vì coi người bản địa chỉ là đối tượng cần quản lý, là hướng tiếp cận được nhiều chương trình bảo tồn đề cao. Người từ nơi khác đến sống ở vùng đệm có thể học hỏi rất nhiều từ hàng xóm người bản địa về cách sống cạnh rừng.

Sinh kế có thể đi cùng rừng

Bảo vệ rừng bền vững khi người dân vùng đệm có thu nhập không phụ thuộc vào việc lấy từ rừng. Một số hướng đã được thử ở các vùng rừng tương tự:

  • Nuôi ong lấy mật bằng thùng ở vườn nhà, tận dụng hoa điều, hoa cà phê và hoa rừng gần đó, thay vì đi rừng hun khói lấy mật ong rừng.
  • Trồng cây dược liệu, cây ăn trái bản địa dưới tán vườn hoặc ở rìa vườn, theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông.
  • Làm du lịch cộng đồng ở mức nhỏ: đón khách ở nhà, dẫn đường, nấu món địa phương, giới thiệu nghề đan lát, dệt — theo quy định của địa phương và vườn quốc gia.
  • Đan lát, dệt thổ cẩm, làm sản phẩm thủ công từ nguyên liệu trồng hoặc thu hái hợp pháp.
  • Tham gia làm việc thời vụ cho các chương trình trồng rừng, phục hồi rừng, giám sát động vật của vườn quốc gia.

Không có sinh kế nào làm giàu nhanh. Điểm chung của các cách trên là cho thu nhập đều đặn, giữ được người trẻ ở lại thôn, và gắn lợi ích của gia đình với việc rừng còn xanh.

Những va chạm thường gặp và cách tháo gỡ

Quan hệ giữa người giữ rừng và người vi phạm có khi căng thẳng, nhất là khi người vi phạm là người quen, cùng thôn. Thành viên tổ bảo vệ rừng nên báo cáo qua kênh chính thức, để kiểm lâm và chính quyền xử lý, tránh tự giải quyết dẫn đến mâu thuẫn cá nhân kéo dài.

Tranh chấp ranh giới giữa đất vườn của dân và đất rừng là chuyện đã xảy ra ở nhiều nơi trong vùng Bình Phước cũ, do lịch sử khai phá, giao đất qua nhiều thời kỳ chưa rõ ràng. Gặp trường hợp này, người dân nên giữ giấy tờ, đề nghị đo đạc lại qua chính quyền xã, không tự ý phá rừng hay rào lấn.

Một va chạm khác là giữa nhu cầu thu hái truyền thống và quy định bảo tồn. Những khu rừng trước đây đồng bào vẫn vào lấy măng, rau, củi nay nằm trong vùng cấm. Đối thoại giữa cộng đồng, ban quản lý rừng và chính quyền, tìm khu vực và mùa thu hái hợp lý, là cách nhiều nơi đã làm thay vì chỉ cấm.

Ghi chép tuần tra: từ cuốn sổ tay đến chiếc điện thoại

Trước đây, tổ bảo vệ rừng ghi kết quả tuần tra vào sổ tay: ngày đi, tuyến đi, thấy gì, báo ai. Nhiều nơi nay đã chuyển sang dùng điện thoại có định vị để ghi lại đường đi, chụp ảnh có toạ độ những điểm vi phạm, bẫy thú, dấu vết động vật. Một số vườn quốc gia ở Việt Nam dùng phần mềm chuyên cho tuần tra rừng, giúp tổng hợp dữ liệu của nhiều tổ thành bản đồ chung.

Với người nhận khoán, cách ghi chép mới có lợi rõ ràng: bằng chứng tuần tra minh bạch hơn, ít tranh cãi khi nghiệm thu, và thông tin báo cáo đến kiểm lâm nhanh, chính xác hơn. Khó khăn là sóng điện thoại trong rừng sâu chập chờn, pin hết nhanh, nên thiết bị thường lưu dữ liệu và gửi lên khi về tới vùng có sóng.

Không có công nghệ nào thay được đôi chân và con mắt của người đi rừng. Thiết bị chỉ giúp những gì người tuần tra thấy được ghi lại đầy đủ và đến đúng người cần biết. Người mới tham gia nên nhờ thành viên lâu năm chỉ cách dùng và cách nhận biết những dấu vết đáng ghi.

Người trẻ ở thôn sóc và nghề giữ rừng

Ở nhiều thôn vùng đệm, người trẻ có xu hướng rời quê đi làm công nhân ở các khu công nghiệp phía nam, để lại người lớn tuổi với vườn và rừng. Điều đó làm lực lượng giữ rừng già đi, và tri thức về rừng có nguy cơ không được truyền lại.

Một số hướng giúp người trẻ ở lại gắn bó: tuyển dụng người địa phương vào lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của vườn quốc gia, đào tạo hướng dẫn viên du lịch sinh thái, tham gia các dự án nghiên cứu, giám sát động vật cần người thông thạo địa hình. Những công việc này cho thu nhập, có kỹ năng mới, và gắn người trẻ với rừng của chính quê mình.

Gia đình có con em học các ngành lâm nghiệp, quản lý tài nguyên, sinh học có thể tìm hiểu cơ hội làm việc ở chính vườn quốc gia và các đơn vị lâm nghiệp trong tỉnh. Học sinh các trường quanh vùng cũng thường được tham gia hoạt động giáo dục môi trường do vườn tổ chức.

Trước khi nhận khoán, nên hỏi những gì

Diện tích được giao ở đâu, ranh giới thế nào, có bản đồ hoặc cột mốc không. Rừng được giao thuộc loại nào: đặc dụng, phòng hộ hay sản xuất, vì điều này quyết định những gì được làm và không được làm.

Kinh phí khoán tính thế nào, trả khi nào, qua kênh nào, có khoản nào bị trừ nếu rừng bị vi phạm. Thời hạn hợp đồng bao lâu, điều kiện gia hạn hay chấm dứt ra sao. Có được tập huấn, trang bị, bảo hiểm khi đi tuần không.

Ai là đầu mối liên lạc khi có sự cố, kiểm lâm địa bàn là ai, quy trình báo cáo ra sao. Tổ có những ai, chia ca thế nào. Hỏi kỹ những điều này với chủ rừng và uỷ ban xã giúp tránh hiểu lầm và bảo vệ quyền lợi của chính người nhận khoán. Nếu được, nên đọc kỹ hợp đồng trước khi ký, nhờ cán bộ thôn hoặc người tin cậy giải thích những điều khoản chưa rõ, và giữ một bản để đối chiếu khi cần.

Câu hỏi thường gặp

Ai được nhận khoán bảo vệ rừng ở Bù Gia Mập?

Thường là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn sống gần rừng, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số và hộ khó khăn hay được ưu tiên. Điều kiện cụ thể do chủ rừng và chính quyền địa phương quy định, nên cần hỏi trực tiếp ban quản lý rừng hoặc uỷ ban xã.

Tiền khoán bảo vệ rừng có đủ sống không?

Thường không đủ để sống, mà là nguồn thu phụ bổ sung cho thu nhập từ vườn và các công việc khác. Mức chi trả khác nhau theo loại rừng, vị trí và nguồn kinh phí của từng năm, nên không nên dựa vào khoản này làm thu nhập chính.

Thành viên tổ bảo vệ rừng có được bắt người vi phạm không?

Không. Tổ bảo vệ rừng có nhiệm vụ tuần tra, phát hiện, ghi nhận và báo cáo cho kiểm lâm, chính quyền. Việc bắt giữ, xử phạt thuộc thẩm quyền của cơ quan chức năng. Đối đầu trực tiếp với người vi phạm có thể gây nguy hiểm cho bản thân.

Nhận khoán bảo vệ rừng có được làm rẫy trong rừng không?

Không. Hợp đồng khoán chỉ giao trách nhiệm bảo vệ và một số quyền lợi theo thoả thuận, không giao quyền phát rừng, làm rẫy hay chuyển nhượng đất. Tự ý phát rừng trên diện tích nhận khoán là vi phạm và có thể bị chấm dứt hợp đồng.

Đi tuần gặp người săn bắt có vũ khí thì làm sao?

Ưu tiên an toàn của bản thân: không tiếp cận, không đối đầu, rút lui và báo ngay cho kiểm lâm, công an xã hoặc đồn biên phòng nếu ở gần biên giới. Ghi nhớ đặc điểm, vị trí, hướng di chuyển giúp lực lượng chức năng xử lý.

Muốn tham gia giữ rừng nhưng không nhận khoán thì có cách nào?

Có thể tham gia tổ đội phòng cháy chữa cháy rừng của thôn, báo tin khi thấy vi phạm, tham gia các buổi trồng cây, dọn rác ven suối, và đơn giản là không mua lâm sản, động vật hoang dã không rõ nguồn gốc. Mỗi việc nhỏ đều góp phần.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.